CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm chính sách công Theo nhà nghiên cứu William Jenkins (1978) thì “ Chính sách công là tập hợp các quyết định liên quan với nhau được ban hành bởi một hoặc nhóm các nhà hoạt động chính trị liên quan đến lựa chọn mục tiêu và các phương tiện để đạt mục tiêu trong tình huống xác định thuộc phạm vi thẩm quyền”. Quan điểm của Jenkins làm rõ hơn nhiều nội dung mang tính bản chất của chính sách công.
Đó là sự mở rộng về chủ thể chính sách công – nhà hoạt động chính trị (ngoài thế chế, nhà nước), xác định tính hệ thống của chính sách công - “tập hợp các quyết định có liên quan với nhau” và nhất là làm rõ cấu trúc của bản chính sách bao gồm mục tiêu và phương tiện thực hiện chính sách [39]. Hai tác giả Kraft và Furlong (2004) cho rằng, chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng. Nó được kết hợp với các cách thức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng như các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những chương trình. Lê Chi Mai (2008) đưa ra cách hiểu về thuật ngữ chính sách công là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các quyết định hoạt động của Nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế- xã hội theo mục tiêu xác định [23].
Trong bài nghiên cứu Bàn về khái niệm chính sách công, tác giả Hồ Việt Hạnh với 7 cách tiếp cận chính sách công từ góc độ chính sách công từ góc độ quyền lực trong sự so sánh với chính sách tư đã cung cấp nhiều nhận thức mới mẻ, có tính gợi mở cao về chính sách công gắn với thực tiễn Việt Nam. Trên cơ sở tiếp cận đó, tác giả cho rằng “Chính sách công là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết các vấn đề về lợi ích chung của cộng đồng” [18]. Từ những quan niệm trên chúng ta có thể hiểu Chính sách công một cách khái quát là tổng thể chương trình hành động của Đảng và Nhà nước, nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra và đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững, ổn định. Khái niệm Chính sách phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở Khái niệm đội ngũ được dùng cho các tổ chức trong xã hội một cách khá rộng rãi như: đội ngũ tri thức, đội ngũ công nhân, đội ngũ thanh niên xung phong, đội ngũ giáo viên…Ở một nghĩa chung nhất chúng ta hiểu: Đội ngũ là tập hợp thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng nghề nghiệp hoặc khác nghề, nhưng có chung mục đích xác định; họ làm việc theo kế hoạch.
Đội ngũ giáo viên là những người cùng làm nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục, có đủ tiêu chuẩn về đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ theo quy định, có tinh thần đoàn kết, gắn bó, tạo thành một khối thống nhất. Từng hoạt động của mỗi thành viên luôn có mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, có cùng quyền lợi và nghĩa vụ, có quy chế 12 làm việc nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục chung. Đội ngũ này quyết định toàn bộ chất lượng hoạt động giáo dục của nhà trường bằng việc cống hiến hết tài năng và công sức của họ.Trong hệ thống giáo dục và đào tạo thì nhân lực chính là đội ngũ cán bộ, giáo viên, trong đó đội ngũ giáo viên là lực lượng chiếm đa số”. Khái niệm về đội ngũ giáo viên có thể diễn đạt nhiều cách khác nhau, nhưng đều thống nhất: “ĐNGV là tập hợp những người làm nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác bao gồm Cán bộ quản lý), giáo viên có đủ tiêu chuẩn, phẩm chất, đạo đức, chuyên môn và nghiệp vụ theo quy định.
Tập thể này quyết định chất lượng hoạt động giáo dục của nhà trường bằng việc cống hiến toàn bộ tài năng và sức lực của họ”. Để thực hiện thành công và tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc thì đòi hỏi mỗi cá nhân giáo viên đều phải trên tinh thần cộng tác, tương tác, đoàn kết gắn bó tạo thành một khối thống nhất và mỗi hoạt động của từng thành viên luôn có mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau trên cơ sở gắn kết với nhau theo mục tiêu chung nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục [27]. Đội ngũ giáo viên THCS là lực lượng các nhà giáo tham gia giáo dục và giảng dạy ở cấp THCS. Đội ngũ giáo viên THCS được tổ chức chặt chẽ, có sự thống nhất cao về lý tưởng, có cùng mục đích về giáo dục học sinh thành những con người phát triển toàn diện.
Đội ngũ giáo viên THCS bao gồm người tham gia trực tiếp quá trình quản lý hoạt động giáo dục, đó là hiệu trưởng, giáo viên (Gồm giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm), giáo viên là tổng phụ trách Đội. Người giáo viên THCS là những người tốt nghiệp ngành sư phạm theo chuẩn đào tạo bằng cao đẳng chuyên nghiệp, họ là những người đứng trong 13 hệ thống giáo dục phổ thông giáo dục THCS được thực hiện 4 năm từ lớp 6 đến lớp 9. Đây là những giáo viên trực tiếp giảng dạy chương trình THCS nhằm đạt mục tiêu của giáo dục phổ thông, giúp học sinh phát triển toàn diện và hình thành các kỹ năng, phát triển năng lực sáng tạo, hình thành nhân cách, chuẩn bị tiền đề cho các em tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động. Nếu giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu thì giáo dục THCS giúp học sinh phát triển kết quả giáo dục tiểu học, hình thành học vấn ở trình độ cơ sở, những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật để tiếp tục học lên Trung học phổ thông ( THPT), Trung cấp chuyên nghiệp hoặc đi vào cuộc sống lao động.
Như vậy, ta có thể thấy người giáo viên THCS có một vai trò quan trọng, tạo cầu nối cho giáo dục phổ thông bậc tiểu học và bậc trung học [6]. Phát triển đội ngũ giáo viên là phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo, tạo ra một đội ngũ (tổ chức) giáo viên đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu (tổ chức, độ tuổi, giới, dân tộc), đảm bảo về chất lượng (trình độ chuẩn, phẩm chất, năng lực) đảm bảo thực hiện tốt các yêu cầu phát triển GD&ĐT trong từng thời kì phát triển của đất nước. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Không có thầy giáo thì không có giáo dục. không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế - văn hóa.
Chính sách phát triển là tập hợp các quyết định chính trị của chủ thể quản lý bằng những giải pháp cụ thể nhằm mục tiêu nâng cao, hoàn thiện một đối tượng nào đó. Chính sách phát triển ngoài mang đặc điểm của một chính sách công nói chung còn mang một số đặc điểm riêng như: có tác động đến đối tượng nhằm thay đổi cả về chất lẫn về lượng, để phát triển đối tượng, chính sách có nhiều hướng để tác động nhằm thay đổi mọi mặt của đối tượng mà không riêng một mặt nào. Từ đó, nâng cao chất lượng và số lượng một 14 cách toàn diện đến đối tượng của chính sách phát triển [23]. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, người giáo viên luôn là tâm điểm của hệ thống giáo dục là người giữ vai trò quyết định trong quá trình dạy học và đặc trưng trong việc định hướng giáo dục.
Sự phát triển đội ngũ giáo viên được hiểu là quá trình biến đổi làm cho số lượng, cơ cấu và chất lượng luôn vận động đi lên trong mối quan hệ hỗ trợ, bổ sung lẫn nhau tạo nên thế cân bằng, bền vững. Vì vậy, phát triển đội ngũ giáo viên nhằm mục đích tăng cường hơn nữa sự phát triển toàn diện của người giáo viên trong hoạt động nghề nghiệp. Chương trình hành động của ngành Giáo dục trong việc thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2011-2020, ban hành kèm theo quyết định số 711/QĐ – TTg ngày 13 tháng 06 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, bao gồm những nội dung cụ thể sau: - Củng cố, hoàn thiện hệ thống đào tạo giáo viên, đổi mới căn bản và toàn diện nội dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng nhằm hình thành đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ sức thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015. Tập trung đầu tư xây dựng các trường sư phạm và các khoa sư phạm tại các trường đại học để nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên.
- Đảm bảo từng bước có đủ giáo viên thực hiện giáo dục toàn diện theo chương trình giáo dục mầm non và phổ thông, dạy học 2 buổi/ngày, giáo viên dạy ngoại ngữ, giáo viên tư vấn học đường và hướng nghiệp, giáo viên giáo dục đặc biệt và giáo viên giáo dục thường xuyên. Chuẩn hóa trong đào tạo, tuyển chọn, sử dụng và đánh giá nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Chú trọng nâng cao đạo đức nghề nghiệp, tác phong và tư cách của đội ngũ nhà giáo để làm gương cho học sinh, sinh viên. Tiếp 15 tục đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo để đến năm 2020, 100% giáo viên mầm non và phổ thông đạt chuẩn trình độ đào tạo, trong đó 60% giáo viên mầm non, 100% giáo viên tiểu học, 88% giáo viên trung học cơ sở và 16,6% giáo viên trung học phổ thông đạt trình độ đào tạo trên chuẩn; 38,5% giáo viên trung cấp chuyên nghiệp, 60% giảng viên cao đẳng và 100% giảng viên đại học đạt trình độ thạc sỹ trở lên; 100% giảng viên đại học và cao đẳng sử dụng thành thạo một ngoại ngữ.
Thực hiện đề án đào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ các trường đại học, cao đẳng với phương án kết hợp đào tạo trong và ngoài nước để đến năm 2020 có 25% giảng viên đại học và 08% giảng viên cao đẳng là tiến sỹ.