phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn được trình bày trong ba chương có tên như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về việc quản lý những yếu tố cản trở quá trình đổi mới phương pháp dạy học ngoại ngữ Chƣơng 2: Khảo sát thực trạng quá trình đổi mới phương pháp dạy học ngoại ngữ tại Trường CĐDLHN và nhận dạng các yếu tố cản trở quá trình này Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý nhằm hạn chế những yếu tố cản trở quá trình đổi mới PPDHNN tại Trường CĐDLHN Cuối luận văn là phần danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC QUẢN LÝ NHỮNG YẾU TỐ CẢN TRỞ QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC NGOẠI NGỮ 1. Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học Đổi mới phương pháp giáo dục nói chung và đổi mới PPDH nói riêng, vừa là phương tiện, vừa là mục tiêu của công cuộc nâng cao chất lượng GD & ĐT.
Tầm quan trọng, ý nghĩa và tính cấp bách của việc đổi mới này đã được nêu lên rất rõ trong các văn bản của Đảng, Nhà nước và của các cấp quản lý ngành Giáo dục. Nghị quyết TW2 khoá VIII đã chỉ rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp GD & ĐT, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS, nhất là SV ĐH…” Ngày 2/11/2005, Chính phủ đã có Nghị quyết 14/2005/NQ-CP về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục ĐH Việt Nam giai đoạn 2006-2020. Nghị quyết đề ra bảy nhóm nhiệm vụ với những giải pháp đổi mới giáo dục trong đó nhấn mạnh đến yếu tố đổi mới PPDH tại mọi cấp học, bậc học.
Ngay từ đầu những năm 1990, vấn đề đổi mới PPDH đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập tới như: Đặng Vũ Hoạt, Ngô Hiệu “Vấn đề hoàn thiện các PPDH” (1991), Trần Bá Hoành “Phương pháp tích cực” (1996), Nguyễn Đình Chỉnh “Phương pháp dạy học - vấn đề cốt lõi, đổi mới không dễ” (1997), Nguyễn Hoàng Kì “Đổi mới PPDH” (2000), Nghiêm Đình Vì “Tiếp tục đổi mới PPDH theo hướng hoạt động hóa người học”(2000), Trần Trọng Thủy “Vấn đề đổi mới nội dung, PPDH nhìn từ góc độ Tâm lý học” (2000), Trần Viết Lưu “Những yếu tố ảnh hưởng tới việc đổi PPDH ở nước ta hiện nay” (2001), Phan Đình Diệu, “Một cách nhìn về vấn đề đổi mới PPDH” (2003). Đề cập đến các vấn đề chung của đổi mới PPDH ở bậc ĐH có các tác giả tiêu biểu như: Vũ Văn Tảo “Vài nét về xu thế đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập ĐH trên thế giới” (1997), Lâm Mai Long “Tăng cường hiệu quả của đổi mới phương pháp trong các trường ĐH” (1998), Lê Văn Giáo và Nguyễn Thị An Vinh “Một số ý kiến về đổi mới PPDH ở ĐH” (1999), Lê Đức Phúc “Về đổi mới PPDH ĐH” (2001), Trần Hữu Luyến “Mục đích, cơ sở, nội dung và giải pháp đổi mới PPDH ở trường ĐH và CĐ” (2002), Phạm Xuân Hậu “Đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của SV” (2002), Nguyễn Thường Lạng “Kết hợp giữa phương pháp giảng dạy truyền thống với phương pháp giảng dạy hiện đại để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ĐH hiện nay” (2002), Lê Khánh Bằng “Một số phương hướng đổi mới PPDH ở ĐH” (2003), Đặng Xuân Hải “Vận dụng lý thuyết quản lý sự thay đổi để chỉ đạo đổi mới PPDH ở nhà trường hiện nay” (2004). Ngoài ra, ngành GD&ĐT còn tổ chức nhiều hội thảo khoa học, hội tụ các nhà sư phạm, nhà khoa học, nhà quản lý uy tín nhằm nghiên cứu những giải pháp thực hiện đổi mới PPDH hiệu quả. Ví dụ, hội thảo “Nâng cao chất lượng đào tạo toàn quốc lần thứ III” được tổ chức tại Hà Nội tháng 6 năm 2002; Hội thảo “Đổi mới PPDH ở ĐH và CĐ” tháng 3 năm 2007; Hô ̣i thảo “ Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam - Hô ̣i nhâ p̣ và thách thức” tháng 3 năm 2008; Hô ̣i thảo “ Đổi mới phương pháp giảng dạy Đại học” tháng 2 năm 2009;… 1.
Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học ngoại ngữ ở bậc đại học - cao đẳng Có thể nói, vấn đề về đổi mới PPDH nói chung và đổi mới PPDHNN nói riêng ở bậc ĐH - CĐ đã và đang được sự quan tâm của Bộ GD&ĐT, nhiều trường ĐH - CĐ, nhiều nhà khoa học và các nhà QLGD. Chiến lược phát triển giáo dục 2010-2020 đã chỉ rõ: “Thực hiện cuộc vận động toàn ngành đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học, biến quá trình học tập thành quá trình tự học có hướng dẫn và quản lý của GV. SV sau khi tốt nghiệp có kiến thức hiện đại, kỹ năng thực hành nghề nghiệp vững chắc, có khả năng lao động sáng tạo, có tư duy độc lập, phê phán và năng lực giải quyết vấn đề, có khả năng thích ứng cao với những biến động của thị trường lao động, có khả năng sử dụng tiếng Anh trong học tập, nghiên cứu và làm việc sau khi tốt nghiệp đạt mức 3 theo chuẩn năng lực ngoại ngữ quốc tế. Đề cập đến các vấn đề của đổi mới PPDHNN ở bậc ĐH - CĐ có các tác giả như: Lê Hương Hoa “Đổi mới phương pháp giảng dạy tiếng Anh theo định hướng thực hành giao tiếp”, Đặng Đình Cung “Cần làm rõ nội dung, điều kiện đổi mới PPDHNN trong các trường ĐH”, Trần Thị Lan “Đổi mới PPDHNN từ lý thuyết đến thực tế”, Vũ Quốc Thái “Về đổi mới PPDHNN”, Tô Thị Thu Hương “Lý luận và PPDHNN tại các trường ĐH”, Trần Thế Khoa “Đổi mới các kỹ năng học ngoại ngữ”, Nguyễn Thu Hường “Đổi 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân”, Dương Quốc Cường “Đổi mới PPDHNN góp phần nâng cao chất lượng đào tạo”,.
Ngoài ra, gần đây trong nhiều hội thảo khoa học, vấn đề về đổi mới PPDHNN ở bậc ĐH - CĐ đã được bàn luận rất sôi nổi. Ví dụ như: Hội nghị khoa học “Đổi mới phương pháp giảng dạy ngoại ngữ ở ĐH” (10.2009); Hội thảo “Đổi mới PPDHNN tại ĐH Hà nội” (1.2009); Hội nghị “Đổi mới phương pháp giảng dạy ngoại ngữ tại trường ĐH Ngoại ngữ - ĐH Huế” (2.2009); Hội thảo “Đổi mới phương pháp giảng dạy tiếng Anh ở ĐH Duy Tân” (5.2009); Hội thảo khoa học “Cải tiến phương pháp giảng dạy ngoại ngữ không chuyên ở trường ĐH Sư phạm” (7. Trong các hội thảo này, đã có rất nhiều tham luận đề cập đến thực trạng công cuộc đổi mới PPDHNN ở bậc ĐH - CĐ cũng như các xu hướng phát triển và các giải pháp chung, kinh nghiệm cụ thể tại một số trường ĐH và CĐ. Một số khái niệm cơ bản về quản lý 1.
Quản lý và các vấn đề liên quan đến quản lý 1. Quản lý Khoa học quản lý xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Nó là phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời một cách tất yếu do nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi tổ chức, mọi quốc gia, mọi thời đại. Lao động quản lý là một lĩnh vực lao động trí tuệ và thực tiễn phức tạp nhất của con người nhằm điều khiển lao động thúc đẩy xã hội phát triển trên tất cả các bình diện, khoa học quản lý gắn liền với tiến trình phát triển của xã hội loài người, mang tính lịch sử, giai cấp, dân tộc, thời đại.
Quản lý là một khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học xã hội, đồng thời quản lý còn là một nghệ thuật đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao độ để đạt được mục đích. Chính vì vậy, người ta có thể tiếp nhận khái niệm quản lý theo nhiều cách khác nhau phụ thuộc vào cái nhìn chủ quan và tính mục đích hoạt động. Chúng ta có thể điểm qua một số khái niệm: Theo K.Marx, quản lý là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hoá lao động. Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua quản lý.
Người viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện như chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [22, tr. Taylo (1856-1915) “Quản lý là biết được chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó biết được họ làm việc đó có tốt hay không, có rẻ nhất không” [11, tr. Henri Fayol (1841 – 1925) xuất phát từ các loại hình quản lý cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [11, tr.
Các nhà nghiên cứu người Mỹ Harold Koontz, Cyril O’ Donnell, Heinz Weihrich trong cuốn “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” thì cho rằng “Quản lý là một loại hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp, nỗ lực của cá nhân hướng vào mục tiêu tổ chức. Đó là hình thành một môi trường có những điều kiện tốt nhất, thời gian ít nhất, công sức bỏ ra ít nhất, sự bất mãn cá nhân ít nhất để đạt hiệu quả cao nhất” [21, tr. Từ điển Tiếng Việt viết: “Quản lý là hoạt động của con người tác động vào tập thể người khác để phối hợp điều chỉnh phân công thực hiện mục tiêu chung” [33, tr. Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [11, tr.