Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM KỶ LUẬT TRONG LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM 1. TRÁCH NHIỆM KỶ LUẬT LAO ĐỘNG - MỘT BIỆN PHÁP ĐỂ ĐẢM BẢO VÀ TĂNG CƢỜNG KỶ LUẬT LAO ĐỘNG 1. Kỷ luật lao động - một chế định của luật lao động 1. Khái niệm Theo Từ điển tiếng Việt thì "kỷ luật" là tổng thể nói chung những điều quy định có tính chất bắt buộc đối với hoạt động của các thành viên trong một tổ chức, để đảm bảo tính chặt chẽ của tổ chức đó 33.
Với khái niệm trên, kỷ luật được coi là nền tảng để xây dựng mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất cũng như trong các hoạt động xã hội. Trong xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển, ngoài việc tuân theo các quy luật của thiên nhiên, còn phải tuân theo những chuẩn mực, những quy tắc của xã hội đặt ra. Trong cuộc sống, nếu chỉ tồn tại một cá nhân đơn lẻ thì pháp luật không cần phải điều chỉnh vì chưa xuất hiện quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau vì hoạt động của người đó không liên quan đến người khác và ngược lại. Tuy nhiên, do đặc điểm của lịch sử, con người xuất hiện cùng với xã hội loài người, cho nên trong quá trình lao động, mặc dù mỗi cá nhân thực hiện các nhiệm vụ có tính đơn lẻ, độc lập với nhau, song kết quả cuối cùng lại phụ thuộc vào sự phối hợp, tính đồng bộ, thống nhất của cả cộng đồng, nhất là trong điều kiện chuyên môn hóa, hiệp tác hóa và xã hội hóa ngày càng cao của quan hệ lao động.
Chính quá trình lao động chung của con người đòi hỏi phải có trật tự, nề nếp để hướng các hoạt động của từng người vào việc thực hiện kế hoạch chung và tạo ra những kết quả chung đã định. Cái tạo ra trật tự, nề nếp trong 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quá trình lao động chung giữa một nhóm người hay trong một đơn vị đó là kỷ luật lao động. Vì vậy, kỷ luật chính là phương tiện để đưa các hoạt động chung của con người với nhau vào quỹ đạo nhằm đạt được những mục đích nhất định. Khi xã hội phát triển, lao động không còn mang tính chất thủ công nữa, người ta nhận thấy cần phải hiệp tác, liên kết với nhau để nâng cao hiệu quả sản xuất.
Bởi vậy, những người nắm trong tay tư liệu sản xuất đã tiến hành lập các nhà máy, công xưởng, cảng… mang tính chuyên môn hóa cao và sự tham gia của người lao động không còn ở phạm vi một vài người hay nhóm người nữa mà hàng trăm, hàng ngàn người. Vì vậy, kỷ luật lao động rất cần thiết, sản xuất ngày càng phát triển, cùng với nó là trình độ phân công, tổ chức lao động trong xã hội ngày càng cao và vì vậy, kỷ luật lao động ngày càng trở nên quan trọng.Với ý nghĩa này, kỷ luật lao động là yêu cầu khách quan đối với tất cả các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức… hay rộng hơn là với bất kỳ một xã hội, một nền sản xuất nào. Tính chất của kỷ luật lao động do quan hệ sản xuất thống trị trong xã hội mà trước hết là quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất quyết định. Kỷ luật lao động luôn luôn tồn tại trong mọi chế độ xã hội, luôn mang tính chất xã hội.
Nó luôn được quy định cho phù hợp với tính chất của mối quan hệ lao động. Mỗi khi phương thức sản xuất xã hội thay đổi thì bản chất và hình thức kỷ luật lao động cũng thay đổi. Dưới chế độ cộng sản nguyên thủy, kỷ luật lao động chủ yếu dựa trên nền tảng đạo đức, ý thức tự giác là chủ yếu, kỷ luật mang tính nội bộ, chưa có sự can thiệp của bất kỳ thế lực công quyền nào. Trong xã hội phong kiến, địa chủ chiếm hầu hết đất đai, người dân không có đất phải làm công cho địa chủ và họ bị bóc lột thậm tệ, kỷ luật lao động chính là roi vọt, cưỡng bức một cách tàn bạo.
Trong chế độ tư bản, do được xây dựng trên quan hệ chiếm hữu tư nhân tư liệu sản xuất, cho nên về bản chất, đây vẫn là một xã hội bóc lột, cho 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dù hình thức bóc lột tinh vi hơn rất nhiều - đó là hình thức bóc lột giá trị thặng dư. Chính vì thế, tổ chức lao động dựa vào kỷ luật cưỡng bức kinh tế đối với công nhân làm thuê. Khi nói về kỷ luật lao động trong xã hội tư bản, V. Lênin đã từng chỉ ra rằng, đó là "…thứ kỷ luật gọi là kỷ luật tự do thuê mướn, thứ kỷ luật thực tế là kỷ luật của chế độ nô lệ tư bản chủ nghĩa" 28, tr.
Như vậy, trong các hình thái kinh tế - xã hội có đối kháng giai cấp, thì kỷ luật lao động thực chất là chỉ nhằm cưỡng chế người lao động đem hết sức lao động của mình để tạo ra những lợi ích vật chất cho giai cấp thống trị. Vì thế, kỷ luật lao động luôn có tính cưỡng bức, đối lập với quyền lợi của người lao động và được dùng làm một biện pháp để tăng cường bóc lột sức lao động để tạo ra những lợi ích cho giai cấp thống trị. Cùng với sự ra đời của phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa là sự ra đời và phát triển của kỷ luật lao động mới- kỷ luật lao động xã hội chủ nghĩa, biểu hiện của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và quan hệ lao động hợp tác của những người lao động. Quan hệ sản xuất này đã tạo ra và khuyến khích mối quan hệ tự nguyện, tự giác đối với người lao động và coi lao động là nghĩa vụ và trách nhiệm đối với xã hội.
Trong xã hội, xã hội chủ nghĩa mọi người có sức lao động đều có nghĩa vụ lao động và được nhận một số thù lao căn cứ vào số lượng lao động và chất lượng lao động đã cống hiến cho xã hội. Chính vì vậy, kỷ luật lao động trong xã hội xã hội chủ nghĩa là kỷ luật tự nguyện, tự giác. Tuy vậy, không thể nhìn một chiều trong quan hệ giai cấp mà không nhìn thấy sự tiến bộ, sự thay đổi theo hướng tính cực của bản chất kỷ luật trong xã hội tư bản chủ nghĩa hiện đại. Mặc dù vẫn còn tư hữu, chủ nghĩa tư bản vẫn có lợi thế trong việc ký kết các hợp đồng lao động nhưng nội dung các hợp đồng đó không bị chi phối bởi ý chí người ký kết mà còn chịu tác động của luật pháp.
Mặc khác, khi quyền con người ngày càng được bảo đảm và có xu hướng được mở rộng thì địa vị pháp lý của người lao động cũng 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com từng bước được nâng lên làm thay đổi dần mối quan hệ chủ - thợ theo hướng tích cực. Như vậy, dưới độ chung nhất, kỷ luật được hiểu là những quy định, quy tắc, những trật tự mà con người phải tuân thủ khi tham gia vào hoạt động trong một tổ chức, một tập đoàn hay trong quan hệ với cộng đồng. Trong khoa học luật lao động, kỷ luật lao động được xem xét dưới hai khía cạnh chủ yếu là: như một yếu tố của quan hệ pháp luật lao động hoặc như một chế định của luật lao động. Với tư cách là một yếu tố của quan hệ pháp luật lao động, kỷ luật lao động là sự biểu hiện quyền và nghĩa vụ của hai bên chủ thể.
Trong đó, người lao động có nghĩa vụ phải tuân thủ nội quy lao động, thời giờ làm việc, điều kiện lao động… do pháp luật quy định, hoặc đơn vị yêu cầu. Người sử dụng lao động với tư cách là chủ sở hữu, là người quản lý có quyền thiết lập và duy trì kỷ luật lao động. Trong trường hợp người lao động không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ nghĩa vụ được giao, họ sẽ phải chịu hình thức xử lý kỷ luật tương ứng. Pháp luật cho phép người sử dụng lao động có quyền xử lý kỷ luật đối với người lao động trong những trường hợp này.
Với tư cách là một chế định của luật lao động, kỷ luật lao động là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên trong quan hệ lao động cũng như các hình thức xử lý đối với những người không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ những quy định đó. Trong một doanh nghiệp, "kỷ luật lao động là những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh thể hiện trong nội quy lao động" (Điều 82 Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung). Để đảm bảo trật tự lao động sản xuất, tránh sự tùy tiện của người sử dụng lao động trong việc đề ra kỷ luật lao động, pháp luật quy định các nội dung trên được quy định trong nội quy lao động. Nói một cách cụ thể hơn, nội quy lao động 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phải hướng vào duy trì trật tự, nề nếp trong lao động của doanh nghiệp, bao gồm các vấn đề cơ bản sau: - Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; - Trật tự trong doanh nghiệp; - An toàn lao động và vệ sinh lao động nơi làm việc; - Bảo vệ tài sản và bí mật công nghệ, kinh doanh của đơn vị; - Các hành vi vi phạm kỷ luật, các hình thức xử lý kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất (Điều 83 Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung).
Ngoài ra, theo khoản 2 Điều 49 của Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung có nêu: "… mọi quy định về lao động trong doanh nghiệp phải được sửa đổi cho phù hợp với thỏa ước tập thể", như vậy về mặt pháp lý thì nội quy lao động không được trái với thỏa ước lao động tập thể. Nội quy lao động phải được thông báo đến từng người và những điểm chính phải được niêm yết ở những nơi cần thiết trong doanh nghiệp. Một trong những nội dung quan trọng của nội quy lao động là xác định hành vi vi phạm kỷ luật và các hình thức xử lý tương ứng. Bộ luật Lao động đã có quy định tại Điều 84 và Điều 85 các hình thức xử lý kỷ luật lao động và những trường hợp phạm lỗi nặng của người lao động nhưng doanh nghiệp được quyền cụ thể hóa cho phù hợp với đặc điểm của đơn vị mà không trái với quy định của pháp luật.
Do đó, tuân thủ kỷ luật lao động có ý nghĩa cả về mặt kinh tế, chính trị và xã hội.