Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KỶ LUẬT LAO ĐỘNG SA THẢI 1. Một số vấn đề chung về giải quyết tranh chấp kỷ luật lao động sa thải 1. Khái niệm giải quyết tranh chấp kỷ luật lao động sa thải Hợp đồng LĐ là sự thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện LĐ, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ LĐ (theo Khoản 1 Điều 13 BLLĐ năm 2019). Như vậy, thông qua việc giao kết hợp đồng LĐ thiết lập nên quan hệ LĐ giữa NLĐ và NSDLĐ, quan hệ này được thiết lập trên cơ sở bình đẳng và tự nguyện của các bên hướng tới lợi ích mà mỗi bên mong muốn.
Quan hệ LĐ được định nghĩa là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng LĐ, trả lương giữa NLĐ, NSDLĐ, các tổ chức đại diện của các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong mối quan hệ này, lợi ích Thư mà NSDLĐ đặt ra viện đó là năngTrường suất LĐ, Đại họcsản hiệu quả Mở Hàkinh xuất, Nộidoanh. và hướng tới mục đích cuối cùng đó chính là lợi nhuận. Còn NLĐ mong muốn được hưởng các chế độ và đãi ngộ mà mình nhận được như: lương, thưởng, phụ cấp.
Nhằm đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra hiệu quả, nâng cao chất lượng LĐ sản xuất, kinh doanh của NLĐ thì NSDLĐ xây dựng nên nội quy LĐ quy định các vấn đề như: thời giờ làm việc, trật tự, an toàn LĐ, xử lý kỷ luật. Các nội dung này chính là KLLĐ, vậy KLLĐ là gì? Theo Từ điển Luật học thì KLLĐ là những quy định có tính chất bắt buộc về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất kinh doanh, được thể hiện trong nội quy lao động nhằm đảm bảo trật tự của đơn vị sử dụng LĐ. NLĐ và NSDLĐ đều phải tôn trọng, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình đối với KLLĐ. Ở từng đơn vị, NSDLĐ có quyền ban hành nội quy LĐ để đảm bảo KLLĐ của đơn vị mình.
Nội dung của KLLĐ bao gồm các vấn đề cơ bản như kỷ luật về thời gian, kỷ luật về công nghệ, kỷ luật về chấp hành và điều hành trực 19 tiếp, kỷ luật về bảo an và bảo mật,… khi vi phạm kỷ luật NLĐ tùy theo tính chất mức độ vi phạm mà có thể bị xử lý bằng những hình thức kỷ luật khác nhau.1 Còn theo Điều 117 BLLĐ năm 2019 thì: “Kỷ luật lao động là những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh do người sử dụng lao động ban hành trong nội quy lao động và do pháp luật quy định”. Như vậy, KLLĐ là những quy định do NSDLĐ ban hành, được thể hiện trong nội quy LĐ và quy định pháp luật bao gồm các nội dung về việc tuân theo thời gian, công nghệ, điều hành sản xuất, kinh doanh. Khi NLĐ tham gia quan hệ LĐ thì bắt buộc phải chấp hành KLLĐ do NSDLĐ đặt ra, nếu NLĐ vi phạm thì có thể bị xử lý KLLĐ, với các hình thức KLLĐ bao gồm: Khiển trách; Kéo dài thời hạn nâng lương không quá 06 tháng; Cách chức; Sa thải. Dù áp dụng bất kỳ hình thức nào thì cũng phải đảm bảo tuân theo đúng nguyên tắc, trình tự, thủ tục luật định.
Trong tất cả các hình thức xử lý KLLĐ thì sa thải là hình thức xử lý KLLĐ nghiêm khắc nhất, bởi đây là một trong các trườngThư việndứt hợp chấm Trường Đại hợp đồng LĐhọc Mở Hàđơn do NSDLĐ Nộiphương chấm dứt. Chính vì thế, pháp luật quy định chặt chẽ về thẩm quyền, điều kiện, trình tự. thủ tục, thời hiệu áp dụng… Theo Điều 125 BLLĐ năm 2019 thì hình thức xử lý KLLĐ sa thải được NSDLĐ áp dụng trong trường hợp sau đây: (i) NLĐ có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc; (ii) NLĐ có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của NSDLĐ, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của NSDLĐ hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy LĐ; (iii) NLĐ bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật (tái phạm là trường hợp NLĐ lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật); (iv) NLĐ tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng. 1 Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, NXB Tư pháp và NXB Từ điển bách khoa tr.
20 Mặc dù pháp luật đã quy định cụ thể về các trường hợp áp dụng xử lý KLLĐ sa thải, tuy nhiên, trên thực tế không phải lúc nào NSDLĐ áp dụng cũng đúng, có thể áp dụng khi không thuộc trường hợp phải sa thải hoặc có khi lại vi phạm về trình tự, thủ tục, thời hạn… Đối với NLĐ thì không phải lúc nào cũng đồng ý với quyết định xử lý KLLĐ sa thải của NSDLĐ, chính vì thế dẫn đến phát sinh tranh chấp, vậy tranh chấp là gì? Theo Từ điển tiếng Việt2 thì tranh chấp được hiểu là: “Sự tranh giành nhau một cách giằng có cái không rõ thuộc về bên nào”. Còn theo quan điểm tác giả thì tranh chấp tức là có sự mâu thuẫn, bất đồng, xung đột với nhau. Tranh chấp LĐ được định nghĩa tại Khoản 7 Điều 3 BLLĐ năm 2012 là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ LĐ. Điều 179 BLLĐ năm 2019 tiếp tục định nghĩa: tranh chấp LĐ là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ LĐ; tranh chấp giữa các tổ chức đại diện NLĐ với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ LĐ.
Như vậy, Thư tranh viện Trường chấp KLLĐ Đạilàhọc sa thải Mởđồng, sự bất Hà Nội mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền, nghĩa vụ giữa NLĐ và NSDLĐ trong việc áp dụng hình thức KLLĐ sa thải. Đi đôi với quá trình xây dựng và phát triển đất nước thì việc giải quyết các xung đột, mâu thuẫn trong xã hội là vô cùng quan trọng. Trong đó, giải quyết tranh chấp KLLĐ sa thải có ý nghĩa không hề nhỏ, không chỉ đối với bản thân NLĐ hay NSDLĐ mà còn ảnh hưởng đến tổng hòa nền kinh tế xã hội. Hiện nay, chưa có một khái niệm pháp lý về giải quyết tranh chấp KLLĐ sa thải.
Về cơ bản khái niệm này có thể hiểu rằng giải quyết tranh chấp KLLĐ sa thải là việc làm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền dựa vào pháp luật hiện hành đưa ra phương thức để hòa giải những bất đồng, mâu thuẫn, xung đột về lợi ích, về quyền, nghĩa vụ giữa NLĐ và NSDLĐ khi áp dụng hình thức KLLĐ sa thải. Đặc điểm giải quyết tranh chấp kỷ luật lao động sa thải 2 Viện Ngôn ngữ học (Hoàng Phê chủ biên), 2003, Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học. 21 Tranh chấp KLLĐ sa thải là một trong những tranh chấp LĐ nói chung và là một tranh chấp LĐ cá nhân nói riêng, việc giải quyết tranh chấp KLLĐ sa thải vừa mang đặc điểm chung của giải quyết tranh chấp LĐ lại vừa mang đặc điểm riêng của mình, cụ thể: Thứ nhất, việc giải quyết không bắt buộc phải hòa giải mà có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết và tuân theo trình tự, thủ tục luật định. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp KLLĐ sa thải là những cá nhân, tổ chức, cơ quan được Nhà nước giao quyền giải quyết các tranh chấp KLLĐ sa thải khi có yêu cầu.
Theo quy định của BLLĐ năm 2019 thì các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp KLLĐ sa thải bao gồm: Hòa giải viên LĐ; Hội đồng trọng tài LĐ; Tòa án. Đối với các tranh chấp LĐ cá nhân khác, bắt buộc phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên LĐ trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết. Nhưng đối với tranh chấp KLLĐ sa thải thì không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải, các bên có quyền lựa chọn giải quyết thông quaThư Hội viện Trường đồng trọng Đạihoặc tài LĐ họcTòa Mởán.Hà Nội Quy định này cũng có nghĩa, việc giải quyết tranh chấp KLLĐ sa thải không bắt buộc phải hòa giải giống như giải quyết các tranh chấp LĐ khác. Khi được các bên lựa chọn giải quyết tranh chấp KLLĐ sa thải cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bắt buộc phải tuân theo các trình tự, thủ tục luật định.
Đối với Hòa giải viên LĐ; Hội đồng trọng tài LĐ thì trình tự, thủ tục giải quyết được quy định tại BLLĐ năm 2019 và các văn bản hướng dẫn; còn đối với Tòa án thì tuân theo các quy định của BLTTDS năm 2015. Thứ hai, hoạt động giải quyết tranh chấp KLLĐ sa thải là hoạt động giải quyết những mâu thuẫn nên bắt buộc phải có mâu thuẫn giữa các bên trong việc áp dụng hình thức KLLĐ sa thải. Nếu không có những mâu thuẫn đó thì không phát sinh tranh chấp, không dẫn đến tranh chấp thì không thể yêu cầu giải quyết. Thực tế thì hình thức KLLĐ sa thải là hình thức KLLĐ nặng nhất mà NLĐ phải chịu, ảnh hưởng không nhỏ đến họ nên khi áp dụng NSDLĐ phải cân nhắc rất kỹ trước khi áp dụng.
Nhưng không phải lúc nào NSDLĐ áp 22 dụng hình thức KLLĐ này thì NLĐ cũng đồng thuận mà có thể họ cho rằng họ chưa đến mức bị KLLĐ sa thải hoặc cho rằng việc áp dụng KLLĐ chưa đúng, giải quyết chưa thỏa đáng. Khi có không đồng ý họ có thể khiếu nại với NSDLĐ hoặc cơ quan có thẩm quyền, nếu hai bên thương lượng và tìm ra hướng giải quyết phù hợp cho cả hai thì sẽ không dẫn đến tranh chấp; còn nếu không tìm được tiếng nói chung, NLĐ có thể yêu cầu giải quyết tranh chấp LĐ theo quy định pháp luật. Thứ ba, việc giải quyết tranh chấp KLLĐ sa thải có sự tham gia của hai bên là NLĐ và NSDLĐ với bên yêu cầu thường là NLĐ và các bên này không có địa vị ngang nhau.