Chương I của Pháp lệnh này hoặc tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép lâm sản, gây thiệt hại lớn đến tài nguyên rừng hoặc đã bị xử phạt mà còn vi phạm thì sẽ bị truy tố trước TAND và có thể bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm và phạt tiền từ 200 đến 2000 đồng, hoặc một trong hai hình phạt đó. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cố ý hủy hoại tài nguyên rừng hoặc cố ý làm trái nguyên tắc, chính sách, chế độ thể lệ về bảo vệ rừng, gây thiệt hại đến tài nguyên rừng; thiếu tinh thần hoặc vô ý làm cháy rừng hay là có những hành động khác gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài nguyên rừng thì bị xử phạt theo Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN, ngày 21 tháng 10 năm 1970. Cố ý phá hoại tài nguyên rừng vì mục đích phản cách mạng thì bị xử phạt theo Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30 tháng 10 năm 1967.[63] Như vậy, các chế tài nghiêm khắc của luật hình sự đã được áp dụng để điều chỉnh nhiều loại hành vi xâm hại đến rừng. Tuy đã có Pháp lệnh làm cơ sở pháp lý nhưng thực tiễn đây là giai đoạn cả nước ta đang dồn sức người, sức của cho công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, do vậy, những quy định của Pháp lệnh chưa được cụ thể hóa và chưa được thực hiện sâu rộng trên phạm vi cả nước.
Lịch sử lập pháp của tội Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng từ năm 1975 đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985 Sau ngày đất nước thống nhất, chúng ta bắt tay vào việc tập trung xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Lúc này, việc xây dựng một hệ thống luật pháp XHCN thống nhất, hoàn chỉnh và phù hợp là một nhiệm vụ có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Trong đó, lĩnh vực pháp luật về bảo vệ rừng đã được Nhà nước ban hành nhiều VBPL có ý nghĩa. Đáng chú ý nhất là Thông tư số 3984-LN/KL ngày 15/10/1977 của Bộ Lâm nghiệp hướng dẫn việc xử phạt hành chính đối với các vi phạm luật lệ và bảo vệ rừng.
Đây là Thông tư hướng dẫn cụ thể hóa Pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng cả về phân hóa nhóm hành vi vi phạm và định lượng xử lý hành chính, xác định ranh giới giữa xử lý hành chính và truy cứu TNHS. Thông tư chia làm 4 phần, phần I về mục đích, yêu cầu của việc xử phạt hành chính; phần II về nội dung của việc xử phạt hành 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính; phần III về các hành động vi phạm và mức độ xử phạt hành chính; phần IV về việc thi hành xử phạt hành chính. Trong toàn bộ nội dung của Thông tư 3984-LN/KL, phần thứ III là phần được xây dựng chi tiết, nên cụ thể nhóm hành vi và định lượng tương ứng cùng mức hình phạt, phần thứ III điều chỉnh những loại hành vi sau: I. Phá rừng trái phép: 1.
Được phép phá rừng những đã tùy tiện sử dụng trái phép lâm sản hoặc bỏ lâm sản bị hư hỏng tại rừng. Phá trái phép vào rừng kinh tế, hoặc phá vượt diện tích được phép. Phá trái phép vào rừng khoanh nuôi bảo vệ. Phá trái phép vào rừng cấm.
Khai thác, chặt cây rừng trái phép. Vi phạm quy định kỹ thuật khai thác rừng. Được phép chặt cây, khai thác rừng, nhưng đã vi phạm chế độ nộp tiền nuôi rừng. Chặt cây lấy lâm sản không có giấy phép hoặc giấy phép không hợp lệ, hoặc lấy vượt khối lượng, sai chủng loại cho phép hay là vi phạm vào nhóm gỗ không được khai thác sử dụng.
Chặt cây, lấy lâm sản trái phép trong rừng đang khoanh nuôi bảo vệ. Chặt cây, lấy lâm sản trái phép thuộc các loại thực vật quý hiếm. Chặt cây, lấy lâm sản trái phép trong rừng cấm. Phát, đốt rừng để làm nương rẫy: 1.
Phát đốt rừng kinh tế. Phát đốt rừng khoanh nuôi bảo vệ. Phát đốt rừng cấm hoặc rừng có các lại thực vật quý hiếm mọc tập trung. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Gây cháy rừng 1. Được phép đốt lửa trong rừng nhưng đã vi phạm các quy định về phòng cháy và chữa cháy rừng. Đốt lửa trái phép gây cháy rừng kinh tế. Gây cháy rừng khoanh nuôi bảo vệ.
Vi phạm các quy định cấm đốt lửa. Gây cháy rừng cấm hoặc rừng có các loại thực vật quý hiếm mọc tập trung. Chăn thả gia súc trái phép vào rừng. Chăn thả tự do gia súc vào rừng.
Thả rông gia súc vào những khu rừng non, rừng mới trồng hoặc mới dặm cây con. Săn bắt trái phép chim, muông thú hoang dã. Săn bắt không có giấy phép hoặc buôn bán vận chuyển chim thú đã săn bắn trái phép. Săn bắt trái phép trong mùa cấm, hoặc khu vực cấm săn, hoặc dùng những phương tiện cấm dùng để săn bắt chim thú, hoang dã.
Săn bắt trái phép các loài chím thú quý hiếm cấm săn. Săn bắt trái phép trong rừng cấm. Vi phạm chế độ phòng trừ sâu bệnh phá hại rừng. Tàng trữ, mua bán, vận chuyển và sử dụng trái phép lâm sản.
Vi phạm chế độ nộp tiền nuôi rừng. Mua bán, vận chuyển, sử dụng trái phép lâm sản. Tàng trữ, mua bán, vận chuyển và sử dụng những lâm sản đã khai thác trái phép [56]. Như vậy, một đặc điểm dễ nhận ra là Thông tư 3984/LN-KL tuy chỉ điều chỉnh tám nhóm hành vi song trong mỗi nhóm có sự phân hóa nhỏ thêm dựa vào đối tượng tác động.
Tương ứng với từng hành vi một Thông tư 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3984/LN-KL quy định mức định lượng cụ thể từ tối thiểu đến tối đa để xử phạt hành chính. Ví dụ: Với hành vi thuộc mục III1: Phát đốt rừng kinh tế, có thể bị phạt từ 11 đồng đến 200 đồng nếu phát đốt rừng kinh tế. Rừng gỗ từ 0,7ha trở xuống; rừng tre nứa từ 1,5ha trở xuống. Nếu là rừng tốt thì rừng gỗ: từ 0,5ha trở xuống, rừng tre nứa từ 1ha trở xuống.
Thông tư 3984/LN-KL tại khoản 3 mục IX, phần III cũng quy định đường lối xử lý đối với các hành vi vi phạm có mức độ tác hại đã gây ra vượt quá mức độ xử phạt hành chính đã hướng dẫn trên đây, thì sẽ khởi tố về hình sự. Điều đáng chú ý là từ mục I đến mục VIII các hành vi đều được định lượng, không có hành vi nào được nêu dưới dạng chung chung thuộc dạng gây hậu quả nghiêm trọng. Những quy định của Thông tư số 3984/LN-KL là cơ sở pháp lý quan trọng để truy cứu TNHS người có hành vi xâm hại đến rừng. Thực tế dựa vào Thông tư 3984/LN-KL nhiều hành vi vi phạm đã bị xử lý, hạn chế được phần nào tình trạng khai thác bừa bãi trái phép cây rừng, góp phần bảo vệ được tài nguyên rừng, hình thành và nâng cao ý thức của người dân trong việc tuân thủ pháp luật, bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường sống.
Tuy nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước ta sau năm 1975 bước vào thời kỳ vô cùng khó khăn. Hậu quả do chiến tranh để lại rất nặng nề. Mặt khác, cơ chế quản lý thời chiến không còn phù hợp trong tình hình mới. Do vậy, nhiều ngành kinh tế đã không được định hướng phát triển phù hợp.
Những văn bản QPPL ban hành không điều chỉnh có hiệu quả các QHXH trong tình hình mới. Thông tư 3984/LN-KL cũng bộc lộ những hạn chế của nó. Điều dễ thấy nhất là phạm vi điều chỉnh của Thông tư không theo kịp với diễn biến của tình hình tội phạm. Nhiều hành vi nguy hiểm khác không chỉ xâm phạm đến cây rừng mà cả đến đất rừng và các yếu tố có liên quan.
Đào đãi vàng, thải chất độc hại v.v… là những hành vi xâm hại nghiêm trọng đến rừng, ảnh hưởng rất xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội chưa 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được đề cập. Sau hàng loạt các VBPL được ban hành đã bổ sung cho Thông tư 3984/LN-KL, Nhà nước ta đã có những đánh giá mới về thực trạng vi phạm, về mức độ nguy hiểm của những loại hành vi xâm hại đến rừng thể hiện trong các văn bản như: Chỉ thị số 124-CT/TM ngày 03/9/1981 của Bộ Tổng tham mưu quân đội nhân dân Việt Nam về việc bảo vệ rừng, nghiêm cấm phá rừng; Chỉ thị số 21 VP/Th ngày 21/05/1983 của Bộ Lâm nghiệp về tăng cường quản lý vật tư gỗ; Chỉ thị số 332/CT ngày 02/12/1983 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về chủ động phòng cháy, chữa cháy rừng trong mùa hanh khô hàng năm; Nghị định số 160-HĐBT ngày 10/12/1984 của Hội đồng Bộ trưởng về việc thống nhất quản lý các loại đặc sản rừng; Thông tư số 01TT/LB ngày 18/01/1984 của Liên Bộ Tài chính - Lâm nghiệp - Ủy ban Kế hoạch nhà nước về việc quản lý và sử dụng tiền nuôi rừng; Thông tư số 23- LN/KL ngày 08/10/1984 của Bộ Lâm nghiệp hướng dẫn xử lý bằng biện pháp hành chính đối với các hành vi đầu cơ, buôn lậu, tàng trữ, vận chuyển, kinh doanh trái phép lâm sản. Do vậy, hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ rừng đã được đưa vào BLHS năm 1985 bằng tội danh cụ thể. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để điều chỉnh các QHXH trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng góp phần quan trọng cho công tác đấu tranh phòng và chống loại tội phạm này.
Nhìn chung, việc điều chỉnh những QHXH trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng bằng luật hình sự giai đoạnh từ năm 1945 đến trước khi có BLHS năm 1985 có những đặc điểm sau: Việc xử lý hành vi vi phạm không được quy định trong một điều luật độc lập mà việc xử lý thường viện dẫn các tội danh khác trên cơ sở xác định mục đích là yếu tố quan trọng để xác định tội danh. Giai đoạn trước năm 1975, việc quy định và xử lý bằng hình sự đối với những hành vi vi phạm thuộc loại tội này nhằm mục đích chính là phục vụ công cuộc kháng chiến và chính do những điều kiện khách quan nên trong 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thực tiễn ít áp dụng luật hình sự để xử lý đối với hành vi vi phạm thuộc loại tội này. Những quy định của luật hình sự điều chỉnh loại tội này còn ít, chưa điều chỉnh nhiều loại hành vi vi phạm.