Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TRỌNG TÀI 1. Khái quát chung về trọng tài 1. Khái niệm trọng tài Theo nghĩa thông thường nhất thì: Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp theo đó các bên tranh chấp đưa tranh chấp của mình ra một bên trung gian thứ ba (trọng tài viên hoặc hội đồng trọng tài) và bên trung gian này sẽ xem xét các tài liệu và lập luận của các bên sau đó sẽ đưa ra quyết định về tranh chấp của các bên [26]. Điểm a, khoản 2, Luật Mẫu về Trọng tài Thương mại Quốc tế định nghĩa: "Trọng tài nghĩa là mọi hình thức trọng tài có hoặc không có sự giám sát của một tổ chức trọng tài thường trực" [13].
Khoản 1, Điều 3 Luật TTTM 2010 quy định: "Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này" [21]. So với các phương thức giải quyết tranh chấp khác như thương lượng, trung gian hòa giải, tòa án thì trọng tài có những đặc trưng như sau: Thứ nhất, trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp được hình thành trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện của các bên tranh chấp. Nếu không có sự tự nguyện thỏa thuận của các bên về việc đưa tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh giữa họ ra trọng tài giải quyết thì trọng tài không thể tham gia giải quyết vụ việc. Đặc điểm này làm cho trọng tài hoàn toàn khác với tòa án ở chỗ để đưa tranh chấp ra tòa án giải quyết, các bên tranh chấp không cần bất kỳ thỏa thuận nào.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ hai, hoạt động giải quyết tranh chấp của trọng tài mang tính chất tài phán, có nghĩa là trọng tài được quyền đưa ra phán xét cuối cùng để giải quyết tranh chấp và phán quyết này có giá trị bắt buộc đối với các bên; trường hợp các bên không tự nguyện thi hành phán quyết trọng tài thì sẽ bị cưỡng chế thi hành. Điều này làm cho trọng tài hoàn toàn khác với phương thức thương lượng hay trung gian hòa giải. Trong phương thức thương lượng hay trung gian hòa giải, các bên tranh chấp phải tự bàn bạc, thỏa thuận để thống nhất phương án giải quyết tranh chấp bất đồng giữa họ và tự nguyện thực hiện phương án đó. Thứ ba, các phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm.
Phán quyết trọng tài vừa là sự kết hợp giữa ý chí, sự thỏa thuận của các bên, vừa mang tính chất tài phán của tổ chức có thẩm quyền xét xử. Tuy nhiên, pháp luật cũng đưa ra nhiều yêu cầu bắt buộc trọng tài tuân thủ, nhất là yêu cầu về thủ tục và thẩm quyền. Điều này sẽ đảm bảo quá trình giải quyết tại trọng tài được chính xác và khách quan. Các phán quyết trọng tài bị hủy trong trường hợp trọng tài không tuân thủ quy định về hình thức.
Từ những phân tích ở trên có thể định nghĩa: Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp trong đó các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận với nhau để ủy thác việc giải quyết tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh giữa họ cho một trọng tài và trên cơ sở các tình tiết khách quan của tranh chấp, trọng tài được quyền đưa ra quyết định cuối cùng để giải quyết tranh chấp và quyết định này có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên. Các loại trọng tài Trong những năm gần đây, số lượng những vụ tranh chấp thương mại quốc tế được giải quyết bằng trọng tài ngày càng tăng. Các tổ chức trọng tài phi chính phủ đã phát triển mạnh mẽ chưa từng thấy ở khắp các nơi trên thế giới, đặc biệt là ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, nơi được coi là khu vực phát triển kinh tế năng động nhất trên thế giới. Ở các quốc gia khác nhau, 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trọng tài thương mại phi chính phủ có những tính chất, đặc điểm khác biệt, phù hợp với trình độ và đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước.
Tuy vậy, nhìn chung có thể chia trọng tài làm hai loại chính dựa trên phương pháp tiến hành tố tụng. * Trọng tài vụ việc (ad hoc arbitration): Trọng tài vụ việc là loại hình trọng tài do các bên tranh chấp tự thành lập để giải quyết vấn đề họ yêu cầu, sau khi giải quyết xong vụ tranh chấp thì hội đồng trọng tài tự giải tán. Trong quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài vụ việc có thể được tiến hành theo quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài quy chế hoặc không theo quy tắc của tổ chức trọng tài nào mà thủ tục tố tụng do các bên tự quy ước với nhau. Thực tiễn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài cho thấy, đối với trọng tài vụ việc, các bên không bắt buộc phải tiến hành trọng tài theo quy tắc của một tổ chức trọng tài quy chế mà họ có thể tự quy định quy tắc tố tụng riêng để áp dụng cho vụ tranh chấp của mình.
Đây chính là ưu điểm của trọng tài vụ việc so với trọng tài quy chế. Như vậy, trọng tài vụ việc hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự do thoả thuận của các bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có toàn quyền lựa chọn bất kỳ một trọng tài viên nào hoặc người có kinh nghiệm trong lĩnh vực tranh chấp hoặc uy tín làm trọng tài viên để giải quyết tranh chấp của mình. Người này chỉ cần được các bên nhất trí chứ không bị giới hạn bởi bất kỳ một điều kiện nào nhưng nếu các bên thống nhất lựa chọn một người không đủ khả năng thì chính họ là người sẽ phải gánh chịu hậu quả do sự đề cử của mình đem lại.
Do đó, trọng tài viên thường là người có uy tín, kinh nghiệm, tinh thông nghiệp vụ trong lĩnh vực thương mại quốc tế và công minh trong xét xử. Ngoài ra, các bên tranh chấp còn có toàn quyền trong việc thoả thuận để tự thiết lập những thủ tục, nguyên tắc tố tụng riêng sao cho phù hợp với tranh chấp của mình chứ không nhất thiết phải tuân theo bất kỳ một nguyên tắc sẵn có nào. Nhưng các bên tranh chấp cũng có thể thoả thuận chấp nhận một hệ thống quy định mẫu về trọng tài, điển hình như Bản Quy tắc Trọng tài của UNCITRAL thông qua ngày 28/4/1976 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hay Luật mẫu UNCITRAL thông qua ngày 21/6/1985. Như vậy, tổ chức và tố tụng của trọng tài vụ việc khá đơn giản, có thể tiết kiệm được thời gian và chi phí của các bên liên quan.
Thực tế hiện nay các bên tranh chấp thường có khuynh hướng lựa chọn hình thức trọng tài vụ việc để có thể giải quyết tranh chấp nhanh chóng do thủ tục tố tụng đơn giản và giảm chi phí (do không phải trả chi phí cho các thủ tục hành chính của trọng tài quy chế). Tuy nhiên, hình thức trọng tài vụ việc không phải bao giờ cũng là quy trình trọng tài nhanh hơn và ít tốn kém hơn so với trọng tài quy chế. Vì không có tổ chức trọng tài quy chế nào đặt ra và giám sát thời hạn và không có biểu phí cố định cho trọng tài vụ việc, các bên sẽ phải thỏa thuận trực tiếp về vấn đề này đối với trọng tài viên. Vì vậy, các bên có thể thỏa thuận mức thù lao theo giờ với các trọng tài viên và kết quả là tổng chi phí cuối cùng có thể cao hơn số tiền các bên phải trả nếu đưa tranh chấp ra giải quyết tại một trung tâm trọng tài theo quy tắc của một tổ chức trọng tài quy chế.
Trong trọng tài vụ việc, không có tổ chức nào giám sát việc tiến hành tố tụng trọng tài và giám sát các trọng tài viên. Vì vậy, kết quả phần lớn phụ thuộc vào các trọng tài viên tiến hành tố tụng như thế nào và liệu họ có kiểm soát được toàn bộ quá trình tố tụng không. Cả trọng tài viên và các bên sẽ không có cơ hội yêu cầu một tổ chức nào ủng hộ hay trợ giúp trong trường hợp phát sinh sự kiện không dự kiến trước và trong trường hợp các trọng tài viên không thể giải quyết vụ kiện. Sự giúp đỡ và ủng hộ duy nhất mà các bên có thể nhận được là từ các tòa án quốc gia.
Ở Việt Nam, tại các văn bản pháp luật về trọng tài trước đây chưa có quy định cụ thể về hình thức trọng tài vụ việc này. Pháp lệnh TTTM 2003 lần đầu tiên đưa ra quy định về loại hình trọng tài này tại Điều 26, chính thức công nhận loại hình trọng tài vụ việc và đồng thời cũng đã đưa ra được giải pháp đối với hạn chế nêu trên của trọng tài vụ việc. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập 1.
Trong trường hợp các bên không có thoả thuận khác thì trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nguyên đơn gửi đơn kiện cho bị đơn, bị đơn phải chọn Trọng tài viên và thông báo cho bên nguyên đơn biết Trọng tài viên mà mình chọn. Hết thời hạn này, nếu bị đơn không thông báo cho nguyên đơn tên Trọng tài viên mà mình chọn thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Toà án tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Toà án cấp Tỉnh) nơi bị đơn có trụ sở hoặc cư trú chỉ định trọng tài viên cho bị đơn. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Chánh án Toà án giao cho một thẩm phán chỉ định Trọng tài viên cho bị đơn và thông báo cho các bên. Trong trường hợp vụ tranh chấp có nhiều bị đơn thì các bị đơn phải thống nhất chọn một Trọng tài viên trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiện của nguyên đơn và các tài liệu kèm theo.
Hết thời hạn này, các bị đơn không chọn được Trọng tài viên thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Toà án cấp tỉnh, nơi có trụ sở hoặc cư trú của một trong các bị đơn chỉ định Trọng tài viên cho các bị đơn. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Chánh án Toà án giao cho một Thẩm phán chỉ định Trọng tài viên theo yêu cầu của nguyên đơn và thông báo cho các bên. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày hai Trọng tài viên được chọn hoặc Toà án chỉ định, các Trọng tài viên này phải thống nhất chọn trọng tài viên thứ ba làm Chủ tịch Hội đồng Trọng tài.