Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị đóng vai trò nền tảng. Thực tiễn lập quy giai đoạn 2007–2010 ghi nhận khối lượng văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành chiếm tỷ trọng đặc biệt lớn trong toàn bộ hệ thống pháp luật quốc gia. Theo số liệu thống kê của Bộ Tư pháp, chỉ riêng trong năm 2010, các cơ quan tư pháp địa phương trên cả nước đã tiến hành thẩm định và tham gia ý kiến đối với 22.038 văn bản và đề án, đạt tỷ lệ 71,4% và tăng 4,1% so với mức bình quân của giai đoạn 2007–2009.

Tuy nhiên, công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở cấp tỉnh và cấp huyện vẫn bộc lộ nhiều bất cập nghiêm trọng. Không ít văn bản được ban hành xuất phát từ ý chí chủ quan nhằm giải quyết các sự vụ nhất thời, sao chép cơ học văn bản cấp trên hoặc thậm chí vi phạm tính hợp hiến, hợp pháp và tính khả thi. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ bản chất pháp lý, đánh giá thực trạng và xác định các điểm nghẽn trong hai khâu kiểm soát chất lượng quan trọng nhất: hoạt động thẩm định của cơ quan tư pháp (Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp) và hoạt động thẩm tra của các Ban thuộc Hội đồng nhân dân.

Mục tiêu cụ thể của luận văn nhằm phân tích hệ thống quy phạm điều chỉnh quy trình lập quy địa phương, đối chiếu lý luận với thực tiễn áp dụng tại các địa phương giai đoạn 2004–2013 dựa trên Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004. Từ đó, tác giả luận giải và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa quy trình kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, hướng tới mục tiêu giảm thiểu tối đa tình trạng văn bản chồng chéo và bảo đảm 100% dự thảo văn bản địa phương được kiểm soát chặt chẽ trước khi ban hành.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận vấn đề dựa trên lý thuyết Nhà nước pháp quyền và lý thuyết kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động lập quy. Nghiên cứu tập trung giải mã 3 khái niệm pháp lý trung tâm:

Thứ nhất, thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động nghiên cứu, xem xét, đánh giá chuyên môn mang tính quyền lực nhà nước do cơ quan tư pháp (Sở Tư pháp ở cấp tỉnh, Phòng Tư pháp ở cấp huyện) tiến hành nhằm kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ và kỹ thuật soạn thảo trước khi trình Ủy ban nhân dân.

Thứ hai, thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động xem xét chính trị - pháp lý do các Ban của Hội đồng nhân dân thực hiện, tập trung đánh giá sự phù hợp của dự thảo nghị quyết với đường lối, chính sách của Đảng và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Thứ ba, tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật phản ánh mức độ phù hợp giữa quy phạm điều chỉnh với năng lực tài chính, nguồn nhân lực và ý thức xã hội tại địa bàn áp dụng.

Khung phân tích được vận hành dựa trên 3 nguyên tắc chỉ đạo cốt lõi quy định tại Điều 3 Quyết định số 05/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: bảo đảm tính khách quan và khoa học; tuân thủ nghiêm ngặt trình tự, thủ tục và thời hạn luật định; và bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan liên quan trong quá trình soạn thảo, phản biện.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

Về nguồn dữ liệu, tác giả thu thập và phân tích dữ liệu thứ cấp từ hơn 100 văn bản quy phạm pháp luật, hồ sơ thẩm định và báo cáo thẩm tra thực tế tại nhiều địa phương tiêu biểu như Đắk Lắk, Quảng Ninh, cùng Báo cáo số 01/BC-BTP tổng kết công tác tư pháp giai đoạn 2007–2010.

Phương pháp chọn mẫu điển hình được áp dụng để khảo sát các nhóm văn bản đa dạng gồm nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định và chỉ thị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và huyện. Việc lựa chọn phương pháp phân tích quy nạp kết hợp so sánh luật học và thống kê mô tả giúp bóc tách rõ nét khoảng cách giữa quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 với thực tiễn thực thi.

Timeline nghiên cứu tập trung bám sát giai đoạn 2004–2013, tạo cơ sở thực nghiệm vững chắc để đánh giá toàn diện tác động của thể chế qua gần 10 năm thi hành luật.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tồn tại áp lực bất khả thi về thời hạn thẩm định và thẩm tra. Luật năm 2004 quy định cơ quan soạn thảo gửi hồ sơ trước 15 ngày đối với cấp tỉnh và 10 ngày đối với cấp huyện, nhưng cơ quan tư pháp phải gửi báo cáo thẩm định chậm nhất 07 ngày trước cuộc họp. Do đó, thời gian thực tế để Sở Tư pháp xử lý hồ sơ chỉ có 08 ngày và Phòng Tư pháp chỉ có 03 ngày. Khoảng thời gian này là quá ngắn để nghiên cứu thấu đáo các hồ sơ phức tạp, dẫn đến tình trạng thẩm định hình thức.

Thứ hai, tỷ lệ văn bản qua thẩm định chưa bao quát toàn diện. Mặc dù năm 2010 tỷ lệ thẩm định đạt 71,4%, nhưng vẫn còn 28,6% văn bản và đề án chưa được thẩm định đầy đủ hoặc bị cơ quan soạn thảo gửi hồ sơ quá muộn sát ngày ban hành, làm suy giảm nghiêm trọng chức năng phản biện của cơ quan tư pháp.

Thứ ba, sự bất cập nghiêm trọng về định mức kinh phí. Theo Điều 6 Thông tư liên tịch số 47/2012/TTLT-BTC-BTP, mức chi tối đa cho một báo cáo thẩm định hoặc thẩm tra nghị quyết, quyết định chỉ là 500.000 đồng và chỉ thị là 400.000 đồng. Định mức này thấp hơn khoảng 60% so với nhu cầu thực tế để tổ chức các hội đồng tư vấn chuyên gia độc lập đối với các đề án quy mô lớn.

Thảo luận kết quả

Khi mô hình hóa dữ liệu số lượng văn bản ban hành so với số lượng văn bản được thẩm định qua biểu đồ cột kép giai đoạn 2007–2010 (tăng từ 19.480 văn bản năm 2007 lên hơn 22.000 văn bản năm 2010), kết quả phản ánh rõ khối lượng công việc ngày càng gia tăng trong khi biên chế tư pháp địa phương giữ nguyên.

Nguyên nhân căn bản của các bất cập trên là do pháp luật chưa quy định cụ thể giá trị pháp lý ràng buộc của văn bản thẩm định, thẩm tra. Báo cáo thẩm định hiện chỉ được xem như tài liệu tham khảo, chưa có chế tài xử lý khi cơ quan soạn thảo không tiếp thu hoặc không giải trình ý kiến phản biện.

Dẫn chứng từ thực tế tại Đắk Lắk (Báo cáo thẩm định số 42/BCTĐ-STP ngày 17/3/2011) cho thấy Sở Tư pháp đã phát hiện cơ quan soạn thảo lạm quyền khi quy định Ủy ban nhân dân cấp huyện chỉ đạo các cơ quan ngành dọc như Sở Giao thông vận tải, Công ty đăng kiểm. Tương tự, tại Quảng Ninh (Báo cáo thẩm tra số 93/BC-HĐND ngày 02/12/2011), Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân đã kịp thời chỉ ra sự thiếu khả thi trong quy định xét thưởng học sinh giỏi ban C đạt điểm tuyển sinh đại học từ 9,0 trở lên và đề xuất điều chỉnh về mức 8,0. Điều này khẳng định nếu thiếu khâu thẩm định, thẩm tra thực chất, rủi ro ban hành văn bản sai phạm là rất lớn.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Hoàn thiện khung quy phạm pháp luật: Quốc hội và Chính phủ cần sửa đổi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân theo hướng quy định bắt buộc cơ quan soạn thảo phải tiếp thu hoặc giải trình bằng văn bản đối với 100% ý kiến thẩm định, thẩm tra trước khi trình ký. Bổ sung chế tài không xem xét thông qua các dự thảo chưa có báo cáo thẩm định đạt chuẩn. Timeline thực hiện: 2014–2016. Chủ thể: Bộ Tư pháp, Quốc hội.

  2. Tái cơ cấu quy trình và nới rộng thời hạn: Sửa đổi quy định thời gian gửi hồ sơ, nâng thời hạn thẩm định thực tế của Sở Tư pháp từ 08 ngày lên tối thiểu 15 ngày làm việc và cấp huyện từ 03 ngày lên 07 ngày làm việc. Mục tiêu giảm 50% áp lực xử lý hồ sơ khẩn. Timeline thực hiện: 2014–2015. Chủ thể: Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp.

  3. Điều chỉnh định mức kinh phí và chế độ đãi ngộ: Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Tư pháp sửa đổi Thông tư liên tịch số 47/2012/TTLT-BTC-BTP, nâng mức chi trả kinh phí thẩm định từ 500.000 đồng lên mức 1.500.000 – 2.000.000 đồng/báo cáo đối với dự thảo phức tạp. Đồng thời, nghiên cứu bổ sung phụ cấp trách nhiệm nghề nghiệp tối thiểu 25% cho cán bộ chuyên trách công tác thẩm định tại địa phương. Timeline thực hiện: 2014–2015. Chủ thể: Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ.

  4. Đổi mới phương pháp tổ chức và tăng cường phối hợp: Thiết lập cơ chế tham vấn luật gia độc lập và hội đồng tư vấn chuyên môn đối với 100% dự thảo nghị quyết chuyên đề; chuẩn hóa mẫu báo cáo thẩm định, thẩm tra thống nhất trên toàn quốc nhằm bảo đảm tính khoa học và giá trị pháp lý. Timeline thực hiện: thường xuyên từ năm 2014. Chủ thể: Sở Tư pháp, các Ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Chuyên viên soạn thảo văn bản tại các Sở, Ban, Ngành địa phương: Nắm vững kỹ thuật lập quy chuẩn mực, hiểu rõ yêu cầu thẩm định để loại trừ các sai sót về thẩm quyền ban hành và thể thức trình bày theo Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP.

  2. Cán bộ Sở Tư pháp và Phòng Tư pháp: Tiếp cận bộ tiêu chuẩn đánh giá tính hợp hiến, hợp pháp, nâng cao kỹ năng phản biện và xây dựng báo cáo thẩm định có lập luận sắc bén, thuyết phục.

  3. Đại biểu và thường trực các Ban của Hội đồng nhân dân: Ứng dụng quy trình thẩm tra chuyên sâu, nâng cao năng lực giám sát chính trị - pháp lý và đánh giá sự phù hợp của nghị quyết với tình hình kinh tế - xã hội địa phương.

  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Luật học: Sử dụng làm tài liệu nghiên cứu chuyên khảo trong các học phần Xây dựng văn bản pháp luật, Luật Tổ chức chính quyền địa phương và Lý luận Nhà nước và Pháp luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Hoạt động thẩm định và thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như thế nào? Thẩm định là hoạt động chuyên môn mang tính kỹ thuật pháp lý do cơ quan tư pháp (Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp) thực hiện đối với nghị quyết, quyết định, chỉ thị. Thẩm tra là hoạt động xem xét chính trị - pháp lý do các Ban của Hội đồng nhân dân thực hiện riêng đối với dự thảo nghị quyết nhằm đánh giá tính tương thích với chủ trương của Đảng và tình hình kinh tế - xã hội địa phương theo Điều 24 và Điều 27 Luật Ban hành VBQPPL của HĐND và UBND năm 2004.

2. Thời hạn gửi hồ sơ thẩm định cho Sở Tư pháp được quy định ra sao? Theo Điều 24 và Điều 38 Luật năm 2004, cơ quan soạn thảo phải gửi hồ sơ dự thảo đến Sở Tư pháp chậm nhất là 15 ngày trước ngày Ủy ban nhân dân cấp tỉnh họp. Cơ quan tư pháp có trách nhiệm gửi lại báo cáo thẩm định chậm nhất 07 ngày trước ngày diễn ra phiên họp.

3. Báo cáo thẩm định có giá trị pháp lý bắt buộc đối với cơ quan ban hành không? Theo quy định pháp luật giai đoạn 2004–2013, báo cáo thẩm định không phải là văn bản quy phạm pháp luật nên không mang giá trị bắt buộc tuyệt đối. Tuy nhiên, đây là thủ tục bắt buộc trong hồ sơ trình; cơ quan soạn thảo nếu không đồng ý với ý kiến thẩm định phải có văn bản giải trình cụ thể trước Ủy ban nhân dân.

4. Vì sao tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật địa phương thường chưa cao? Nguyên nhân chủ yếu do cơ quan soạn thảo chưa đánh giá đầy đủ các điều kiện thực tế về nguồn kinh phí thi hành và thói quen của người dân. Thực tế tại Quảng Ninh (Báo cáo số 93/BC-HĐND) từng ghi nhận quy định điểm thưởng tuyển sinh đại học trung bình 9,0 cho khối C là thiếu khả thi và phải điều chỉnh lại.

5. Định mức kinh phí 500.000 đồng/báo cáo thẩm định gây ra rào cản gì? Mức chi tối đa 500.000 đồng/báo cáo nghị quyết theo Thông tư liên tịch số 47/2012/TTLT-BTC-BTP là quá thấp, không đủ kinh phí để tổ chức các hội nghị tư vấn chuyên gia độc lập hoặc thu thập dữ liệu thực tế tại cơ sở đối với các dự thảo có phạm vi tác động rộng.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về vị trí, vai trò của công tác thẩm định và thẩm tra trong chu trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật tại địa phương.
  • Đánh giá sâu sắc thực trạng áp dụng Luật Ban hành VBQPPL của HĐND và UBND năm 2004, chỉ rõ mâu thuẫn giữa khối lượng văn bản gia tăng (đạt 22.038 văn bản năm 2010) với thời hạn thẩm định thực tế chỉ từ 03 đến 08 ngày.
  • Nhận diện lỗ hổng về giá trị pháp lý của báo cáo thẩm định và sự hạn chế của định mức tài chính 500.000 đồng/báo cáo theo Thông tư liên tịch số 47/2012/TTLT-BTC-BTP.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về thể chế, thời hạn quy trình, nguồn kinh phí và chuẩn hóa năng lực đội ngũ cán bộ tư pháp.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng phục vụ công cuộc đổi mới hoạt động lập quy hướng tới tầm nhìn chiến lược giai đoạn 2015–2020.

Công trình là cẩm nang chuyên khảo hữu ích cho các cơ quan nhà nước ở địa phương, chuyên viên lập quy và nhà nghiên cứu pháp luật. Hãy tham khảo và áp dụng ngay các giải pháp từ luận văn để nâng cao chất lượng thẩm định, thẩm tra và bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp cho mọi văn bản quy phạm pháp luật.