Luận văn kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật tại tỉnh Điện Biên

Luận văn thạc sĩ luật kinh tế về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật tại Điện Biên, phân tích thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả.

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
78
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật tại Điện Biên

Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật giữ vai trò then chốt trong xây dựng nhà nước pháp quyền tại địa phương. Hoạt động này tạo lập cơ sở pháp lý vững chắc cho quản lý nhà nước. Công tác kiểm tra giúp rà soát toàn diện các văn bản do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ban hành. Mục tiêu trọng tâm là bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và khả thi của từng văn bản. Tại Điện Biên, kiểm tra văn bản gắn liền với đặc thù vùng cao biên giới. Địa bàn có nhiều dân tộc thiểu số cùng sinh sống. Cơ quan tư pháp địa phương luôn chủ động thực hiện tự kiểm tra và kiểm tra theo thẩm quyền. Hoạt động kiểm tra ngăn ngừa sự xung đột giữa văn bản địa phương với quy chuẩn trung ương. Quy trình kiểm tra đòi hỏi sự chuẩn xác, công tâm và tuân thủ nghiêm ngặt Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Kết quả kiểm tra phản ánh năng lực lập quy của chính quyền các cấp. Việc hoàn thiện thể chế kiểm tra góp phần nâng cao kỷ luật kỷ cương hành chính. Đây là tiền đề thúc đẩy phát triển kinh tế và giữ vững an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh.

1.1. Khái niệm và mục tiêu kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động xem xét tính hợp pháp của văn bản sau khi ban hành. Chủ thể có thẩm quyền tiến hành đối chiếu nội dung văn bản với các quy chuẩn pháp lý cấp trên. Mục tiêu chính là phát hiện kịp thời các nội dung trái pháp luật, mâu thuẫn hoặc chồng chéo. Qua đó, cơ quan chức năng đưa ra kiến nghị sửa đổi, bổ sung, đình chỉ hoặc bãi bỏ. Quy trình này bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Hoạt động kiểm tra duy trì sự thống nhất và tính khả thi của hệ thống quy phạm. Kiểm tra văn bản là công cụ kiểm soát quyền lực nhà nước hiệu quả.

1.2. Cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động kiểm tra văn bản tại địa phương

Hoạt động kiểm tra văn bản tại tỉnh Điện Biên tuân thủ chặt chẽ khung pháp lý của Nhà nước. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Luật sửa đổi năm 2020 là nền tảng cơ bản. Nghị định số 34/2016/NĐ-CP và Nghị định số 154/2020/NĐ-CP quy định chi tiết quy trình thẩm quyền. Các thông tư hướng dẫn của Bộ Tư pháp hoàn thiện cơ chế báo cáo, thống kê và lưu trữ hồ sơ. Tỉnh Điện Biên đã cụ thể hóa các quy định bằng nhiều văn bản chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh. Khung pháp lý này phân định rõ thẩm quyền tự kiểm tra và kiểm tra theo thẩm quyền giữa các cấp.

II. Thực trạng kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật tại Điện Biên

Giai đoạn vừa qua ghi nhận nhiều nỗ lực của các cơ quan tư pháp tỉnh Điện Biên. Sở Tư pháp và Phòng Tư pháp các huyện đã tự kiểm tra hàng nghìn văn bản. Hoạt động kiểm tra theo thẩm quyền cũng được triển khai đồng bộ và thường xuyên. Qua kiểm tra, các cơ quan đã phát hiện nhiều văn bản có dấu hiệu trái pháp luật. Sai phạm chủ yếu tập trung vào thể thức trình bày và thẩm quyền ban hành. Một số văn bản quy định căn cứ pháp lý đã hết hiệu lực hoặc chưa sát thực tế. Việc xử lý sau kiểm tra tại cấp huyện và cấp xã còn chậm trễ. Tỷ lệ văn bản trái luật được xử lý dứt điểm chưa đồng đều qua các năm. Đội ngũ cán bộ pháp chế sở, ngành và công chức tư pháp cấp xã còn thiếu về số lượng. Năng lực chuyên môn của một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu phức tạp. Cơ sở vật chất và ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ kiểm tra còn hạn chế. Nguồn kinh phí hỗ trợ công tác kiểm tra văn bản chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tế.

2.1. Kết quả đạt được trong hoạt động tự kiểm tra và kiểm tra theo thẩm quyền

Công tác tự kiểm tra văn bản tại Điện Biên đạt nhiều chuyển biến tích cực. Sở Tư pháp đã chủ trì rà soát các quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh. Các đơn vị phát hiện và kiến nghị xử lý 124 văn bản có dấu hiệu trái pháp luật. Trong hoạt động kiểm tra theo thẩm quyền, các cơ quan tư pháp cấp tỉnh và huyện đã rà soát hàng nghìn văn bản cấp dưới. Qua đó, cơ quan chức năng phát hiện 606 văn bản vi phạm quy định pháp lý. Đa số các văn bản sai phạm về căn cứ pháp lý, kỹ thuật soạn thảo và thẩm quyền nội dung. Tỷ lệ xử lý văn bản sai phạm tại cấp tỉnh đạt kết quả khả quan.

2.2. Những tồn tại và hạn chế trong quy trình xử lý văn bản trái pháp luật

Quy trình xử lý văn bản sau kiểm tra tại cấp huyện và xã còn nhiều vướng mắc. Nhiều văn bản bị phát hiện sai phạm nhưng chưa được sửa đổi kịp thời. Sự phối hợp giữa cơ quan kiểm tra và cơ quan ban hành văn bản còn thiếu chặt chẽ. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ của người đứng đầu. Trách nhiệm cá nhân trong việc ban hành văn bản sai sót chưa được xử lý nghiêm minh. Bên cạnh đó, công chức tư pháp cấp xã phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ hành chính. Điều kiện trang thiết bị phục vụ tra cứu dữ liệu pháp luật còn lạc hậu và hạn chế.

III. Giải pháp kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật tại tỉnh Điện Biên

Nâng cao hiệu quả kiểm tra văn bản đòi hỏi hệ thống giải pháp đồng bộ. Cấp ủy và chính quyền các cấp cần nâng cao trách nhiệm chính trị. Người đứng đầu cơ quan ban hành văn bản phải chịu trách nhiệm khi xảy ra sai phạm. Tỉnh Điện Biên cần hoàn thiện quy chế phối hợp giữa các sở, ban, ngành. Cơ quan tư pháp phải chủ động theo dõi và đôn đốc việc xử lý văn bản trái pháp luật. Hoạt động kiểm tra cần gắn kết chặt chẽ với công tác thẩm định và thi hành pháp luật. Việc bồi dưỡng kỹ năng chuyên môn cho cán bộ tư pháp là yêu cầu cấp thiết. Địa phương cần tổ chức tập huấn chuyên sâu về kỹ thuật soạn thảo và rà soát pháp lý. Các cấp lãnh đạo cần bảo đảm nguồn kinh phí cho hoạt động kiểm tra văn bản. Việc ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa là giải pháp quan trọng. Quy trình kiểm tra hiện đại giúp rút ngắn thời gian và tăng độ chính xác.

3.1. Đề cao trách nhiệm người đứng đầu và hoàn thiện cơ chế phối hợp

Người đứng đầu cơ quan ban hành văn bản phải gương mẫu trong tuân thủ pháp luật. Trách nhiệm kỷ luật cần được gắn liền với các sai sót trong văn bản quy phạm. Cơ quan tư pháp giữ vai trò đầu mối kiểm tra và kiến nghị xử lý. Mối quan hệ phối hợp giữa Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và các cơ quan chuyên môn cần chặt chẽ hơn. Việc trao đổi thông tin định kỳ giúp phát hiện xung đột quy phạm từ sớm. Khi phát hiện văn bản trái luật, các đơn vị phải khẩn trương bãi bỏ hoặc sửa đổi. Cơ chế kiểm tra chéo giữa các ban ngành nâng cao tính minh bạch và chuẩn xác.

3.2. Nâng cao năng lực cán bộ tư pháp và hiện đại hóa cơ sở dữ liệu

Chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp quyết định trực tiếp hiệu quả kiểm tra văn bản. Tỉnh Điện Biên cần thường xuyên đào tạo nghiệp vụ cho công chức pháp chế. Các lớp tập huấn phải tập trung vào kỹ năng phân tích quy chuẩn và phát hiện lỗi soạn thảo. Bên cạnh nhân lực, chính quyền cần đầu tư trang thiết bị kỹ thuật hiện đại. Việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ là nhiệm vụ cấp bách. Ứng dụng công nghệ hỗ trợ rà soát tự động giúp giảm tải áp lực cho cán bộ. Nguồn kinh phí hỗ trợ cần được phân bổ kịp thời và đúng mục đích.

IV. Kết luận về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật tại tỉnh Điện Biên

Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là nhiệm vụ mang tính liên tục và chiến lược. Công tác này bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước tại địa phương. Những bài học thực tiễn tại Điện Biên khẳng định vai trò của giám sát lập quy. Hoạt động kiểm tra giúp hoàn thiện khung chính sách vùng đồng bào dân tộc. Việc thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp sẽ tạo chuyển biến rõ nét. Kỷ cương pháp luật được tăng cường từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở. Nghiên cứu thực trạng và giải pháp cung cấp căn cứ khoa học cho hoạch định chính sách. Đề tài luận văn thạc sĩ luật kinh tế mang giá trị ứng dụng thực tiễn sâu sắc. Các cơ quan quản lý nhà nước có thể vận dụng trực tiếp các đề xuất này. Hiệu quả kiểm tra văn bản góp phần giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng chính quyền địa phương liêm chính và phục vụ nhân dân tốt hơn.

4.1. Ý nghĩa của công tác kiểm tra văn bản đối với sự phát triển địa phương

Công tác kiểm tra văn bản đóng vai trò cốt lõi trong ổn định chính trị tại Điện Biên. Hệ thống văn bản minh bạch thu hút đầu tư và phát triển kinh tế bền vững. Các chính sách an sinh xã hội cho đồng bào dân tộc được thực thi đúng quy định. Việc loại bỏ các văn bản chồng chéo giảm thiểu rủi ro pháp lý cho người dân và doanh nghiệp. Niềm tin của nhân dân vào cơ quan công quyền được củng cố vững chắc. Quản lý hành chính nhà nước ngày càng đi vào nền nếp, kỷ cương. Hoạt động kiểm tra tạo động lực cho sự phát triển toàn diện của tỉnh.

4.2. Khả năng ứng dụng các đề xuất trong hoạt động lập quy tại Điện Biên

Các giải pháp đề xuất có tính thực tiễn cao đối với chính quyền tỉnh Điện Biên. Ủy ban nhân dân tỉnh có thể ban hành quy chế phối hợp mới giữa các ban ngành. Sở Tư pháp có thêm căn cứ để chuẩn hóa quy trình tự kiểm tra và kiểm tra theo thẩm quyền. Việc chuẩn hóa tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ giúp nâng cao chất lượng cán bộ cấp xã. Đầu tư số hóa hệ thống văn bản tạo chuyển biến đột phá trong công tác lưu trữ và tra cứu. Toàn bộ kiến nghị góp phần nâng cao chất lượng ban hành văn bản pháp luật trong giai đoạn mới.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths luật kt kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh điện biên thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 1. Khái quát chung về văn bản quy phạm pháp luật 1.Khái niệm về văn bản quy phạm pháp luật Hiện nay, có rất nhiều loại văn bản do cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền ban hành như VBQPPL, văn bản áp dụng pháp luật, văn bản hành chính thông thường, văn bản chuyên môn và văn bản kỹ thuật. Trong đó VBQPPL là kênh quan trọng để đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đi vào cuộc sống, là công cụ để quản lý nhà nước và xã hội. Khái niệm "văn bản quy phạm pháp luật" được quy định lần đầu trong Luật Ban hành VBQPPL năm 1996, sau đó, tiếp tục được quy định với một số điểm thay đổi trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành VBQPPL năm 2002; Luật ban hành VBQPPL của HĐND, UBND năm 2004 và Luật Ban hành VBQPPL năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Khái niệm này là căn cứ để các cơ quan có thẩm quyền phân biệt VBQPPL với văn bản hành chính và văn bản áp dụng pháp luật, góp phần hạn chế đáng kể số lượng văn bản hành chính có chứa quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, do cách định nghĩa trong Luật còn nặng nề về học thuật, chưa cụ thể nên gây khó khăn trong việc xác định VBQPPL đối với công chức trực tiếp thực hiện. Để khắc phục những khó khăn trong việc xác định VBQPPL và khắc phục hạn chế từ thực tiễn triển khai, Luật năm 2015 đã đưa ra 02 khái niệm và tách khái niệm "Văn bản quy phạm pháp luật" và khái niệm "Quy phạm pháp luật", theo đó, "văn bản quy phạm pháp luật" là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật ban hành VBQPPL. Trong đó, "quy phạm pháp luật" là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân 8 trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật ban hành VBQPPL và được Nhà nước bảo đảm thực hiện.

Đồng thời Luật năm 2015 quy định "một văn bản có chứa quy phạm, pháp luật nhưng được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật". Có thể nói, trong một VBQPPL, dấu hiệu đặc trưng để phân biệt với các văn bản khác là văn bản đặt ra các quy phạm pháp luật (QPPL). Các QPPL này có dấu hiệu đặc trưng (nhằm phân biệt với các quy phạm xã hội, quy phạm đạo đức, quy phạm tôn giáo. Từ khái niệm QPPL đã được nêu trên, thì QPPL có các đặc điểm sau: Thứ nhất, là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung.

Trong đó, quy tắc xử sự chung là những chuẩn mực mà mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân theo khi tham gia vào các quan hệ xã hội mà quy tắc đó điều chỉnh. Quy phạm pháp luật có tính áp dụng chung, tính trừu tượng, không đặt ra cho người này, người kia một cách xác định mà nhằm tới phạm vi đối tượng rộng hơn (ví dụ: tất cả các công dân, tất cả những người trên 18 tuổi, các thương gia, các Chủ tịch tỉnh hoặc Chủ tịch huyện. Các QPPL được áp dụng đối với những người thuộc đối tượng được các QPPL đó điều chỉnh. Như vậy, một quyết định bổ nhiệm một người vào chức vụ Chủ tịch huyện không phải là VBQPPL nhưng văn bản quy định một số quyền hạn cho các Chủ tịch huyện sẽ là VBQPPL.

Quy phạm pháp luật có hiệu lực bắt buộc chung. Quy phạm này được bảo đảm tuân thủ và thực hiện bởi sự cưỡng chế nhà nước. Nhà nước có thể dùng lực lượng công quyền để bảo đảm cho việc áp dụng QPPL bằng việc áp dụng các chế tài. Các chế tài có thể rất đa dạng: chế tài hình sự như hình phạt tù hoặc phạt tiền, chế tài dân sự như hủy bỏ hợp đồng dân sự, bồi thường thiệt hại dân sự ngoài hợp đồng.

Như vậy, bất luận là VBQPPL do cơ quan nào có thẩm quyền ban hành hay bất luận là hình thức văn bản nào (luật, pháp lệnh, nghị định, nghị quyết, quyết định. do cơ quan nhà nước trung ương hay các cấp chính quyền địa phương ban hành) thì chúng đều phải được tuân thủ và thực hiện. 9 Thứ hai, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định. Việc được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần."Áp dụng nhiều lần" hoàn toàn khác với "áp dụng trong một thời gian dài".

Quy tắc xử sự được áp dụng nhiều lần là khi chủ thể này ở trong tình huống đó thì phải thực hiện cách xử sự đã quy định, khi chủ thể khác ở vào tình huống đó cũng phải thực hiện như vậy. Tức là áp dụng mỗi lần đối với một chủ thể và nhiều lần là ở các chủ thể khác nhau (cũng có thể cùng một chủ thể nhưng ở những lần khác nhau). Ví dụ: tại Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định "Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ", việc tuân thủ nguyên tắc này được thực hiện "lặp đi lặp lại" với bất kỳ ai khi tham gia giao thông đường bộ. Đối với Nghị quyết về dự toán và phân bổ ngân sách cho một huyện B trong năm là 10 tỷ thì đây là nhiệm vụ cụ thể giao cho một chủ thể phải thực hiện trong một thời gian dài chứ không phải là một quy phạm thực hiện nhiều lần đối với mọi chủ thể hay một nhóm chủ thể.

Thứ ba, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật ban hành VBQPPL. Cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền theo quy định của luật gồm: Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Tổng kiểm toán nhà nước; đối với VBQPPL ở địa phương, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành là: HĐND, UBND các cấp. Thứ tư, được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Các biện pháp bảo đảm thi hành VBQPPL có thể là: tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục hoặc các biện pháp về tổ chức, hành chính, kinh tế; trong trường hợp cần thiết thì Nhà nước áp dụng biện pháp cưỡng chế bắt buộc thi hành và quy định chế tài đối với người có hành vi vi phạm.

10 Như vậy, QPPL gồm 04 đặc điểm cơ bản gắn bó hữu cơ, không tách rời. Bốn yếu tố này đã tạo nên những đặc trưng để phân biệt VBQPPL với văn bản hành chính thông thường hoặc các loại văn bản khác. Việc xác định rõ khái niệm QPPL, VBQPPL và có ý nghĩa quan trọng trong lý luận và thực tiễn. Ngoài những ý nghĩa thực tế trong quá trình soạn thảo văn bản, việc xác định đâu là VBQPPL, QPPL còn có ý nghĩa trong quá trình thực hiện các trình tự, thủ tục từ khâu soạn thảo đến khâu xử lý hậu quả do nội dung trái pháp luật của văn bản gây ra.

Nếu xác định là văn bản hành chính thông thường, quá trình soạn thảo văn bản sẽ không phải qua các trình tự, thủ tục bắt buộc về đánh giá tác động, lấy ý kiến góp ý (trong đó có ý kiến của đối tượng chịu tác động), lấy ý kiến thẩm định của cơ quan có thẩm quyền.; trong quá trình ban hành, không phải thực hiện các thủ tục đăng công báo hoặc niêm yết, công khai văn bản, gửi văn bản để cơ quan có thẩm quyền thực hiện kiểm tra; trong quá trình thực hiện, phạm vi ảnh hưởng và đối tượng tác động của VBQPPL và văn bản hành chính thông thường là hoàn toàn khác nhau; trường hợp phát hiện văn bản đã ban hành có nội dung trái pháp luật, thì phương án xử lý đối với VBQPPL và văn bản hành chính thông thường là khác nhau, trách nhiệm của người đã tham mưu, ban hành văn bản trái pháp luật đó cũng khác nhau; việc xử lý hậu quả do nội dung trái pháp luật trong văn bản gây ra đối với hai loại văn bản này cũng không giống nhau. Như vậy, tất cả các VBQPPL, do các cơ quan nhà nước ở trung ương hay các cấp chính quyền địa phương ban hành đều phải có đầy đủ các dấu hiệu nêu trên. Vị trí, vai trò văn bản quy phạm pháp luật Nhà nước, trong mọi trường hợp đều mong muốn tạo ra các thay đổi và phát triển bằng việc thiết lập môi trường lành mạnh, trong đó, con người có thể ứng xử theo cách làm tăng sự chuyên môn hóa, sự trao đổi, tăng năng suất lao động và dẫn đến tăng phúc lợi xã hội. Tuy nhiên, làm thế nào để tạo dựng được môi trường mà ở đó có những hành vi xử sự như nhà quản lý mong muốn? Việc thay đổi thể chế và quá trình xây dựng thể chế có tác động đến sự phát triển của một đất nước, hay của một địa phương như tỉnh, huyện, xã hay không? 11 Trong bối cảnh ấy, Nhà nước có thể sử dụng pháp luật như thế nào để quản lý tốt? Quản lý tốt có nghĩa là xã hội phải phát triển.

Do đó, pháp luật hay VBQPPL của Nhà nước không đơn giản chỉ dừng ở việc điều chỉnh các quan hệ xã hội theo nghĩa "bảo đảm trật tự an ninh xã hội" mà ở tầm vĩ mô, pháp luật còn phải phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. Với tư cách là công cụ chính, quan trọng của các cơ quan quản lý nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội, VBQPPL có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm sự ổn định và phát triển xã hội. Khoản 1 Điều 8 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: "1. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ".

Như vậy, VBQPPL có vai trò vô cùng to lớn trong việc quản lý xã hội, ở các góc độ sau đây: Thứ nhất, VBQPPL có thể điều tiết những vấn đề thực tiễn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ