Luận văn: Quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư tại Điện Biên

Luận văn thạc sĩ luật kinh tế phân tích thực trạng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về luật sư, hành nghề luật sư tại tỉnh Điện Biên.

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
79
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư

Quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư giữ vai trò then chốt trong cải cách tư pháp. Hoạt động này tạo hành lang pháp lý minh bạch cho các tổ chức hành nghề hoạt động. Nhà nước thực hiện quyền quản lý thông qua hệ thống văn bản pháp luật, chính sách đào tạo và cơ chế giám sát. Tại địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Sở Tư pháp chịu trách nhiệm chỉ đạo trực tiếp. Mục tiêu cốt lõi là xây dựng đội ngũ luật sư vững vàng về bản lĩnh chính trị và tinh thông nghiệp vụ.

Pháp luật quy định rõ quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước đối với luật sư. Cơ chế quản lý kết hợp hài hòa giữa sự can thiệp của nhà nước và tính tự quản nghề nghiệp. Điều này bảo đảm tính độc lập khách quan của hoạt động tranh tụng. Đồng thời, công tác quản lý ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp. Quản lý hiệu quả giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cá nhân và doanh nghiệp. Đây là nền tảng vững chắc để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

1.1. Cơ sở pháp lý và vai trò quản lý nhà nước về luật sư

Luật Luật sư và các văn bản hướng dẫn thi hành xác lập khuôn khổ pháp lý toàn diện. Các quy định bao quát từ tiêu chuẩn gia nhập nghề đến thủ tục cấp chứng chỉ hành nghề. Cơ quan quản lý nhà nước kiểm soát tính hợp pháp trong tổ chức và hoạt động văn phòng luật sư. Sự điều chỉnh bằng pháp luật định hướng dịch vụ pháp lý phát triển lành mạnh. Nhà nước bảo đảm quyền hành nghề hợp pháp của luật sư trước cơ quan tiến hành tố tụng. Hoạt động quản lý tạo môi trường pháp lý công bằng cho mọi chủ thể tham gia. Công tác này thúc đẩy quá trình cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra đồng bộ.

1.2. Phân biệt quản lý nhà nước và tự quản của tổ chức luật sư

Quản lý nhà nước mang tính quyền lực công với các chế tài hành chính nghiêm ngặt. Cơ quan quản lý đại diện cho lợi ích chung của toàn xã hội. Ngược lại, hoạt động tự quản do Đoàn luật sư thực hiện dựa trên quy chế nội bộ và điều lệ. Tổ chức tự quản tập trung giám sát quy tắc đạo đức ứng xử nghề nghiệp của thành viên. Sự kết hợp giữa hai phương thức này tạo nên cơ chế vận hành cân bằng. Nhà nước không can thiệp sâu vào chuyên môn vụ việc nhưng giữ quyền kiểm tra giám sát tổng thể. Mô hình phối hợp chặt chẽ bảo đảm chất lượng dịch vụ pháp lý và tính minh bạch trong hoạt động tư pháp.

II. Thực trạng quản lý nhà nước về luật sư tại tỉnh Điện Biên

Điện Biên là tỉnh miền núi biên giới có điều kiện kinh tế xã hội đặc thù. Công tác quản lý nhà nước về luật sư trên địa bàn tỉnh đạt nhiều bước tiến quan trọng. Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành nhiều đề án nhằm củng cố tổ chức hành nghề luật sư. Sở Tư pháp thực hiện tốt chức năng tham mưu và thẩm tra cấp phép thành lập văn phòng luật sư. Sự phối hợp giữa cơ quan tư pháp địa phương và Đoàn luật sư tỉnh ngày càng chặt chẽ.

Tuy nhiên, hoạt động quản lý vẫn đối mặt với nhiều rào cản lớn. Số lượng luật sư tại Điện Biên còn rất khiêm tốn so với nhu cầu thực tế. Địa bàn phân bố không đồng đều, tập trung chủ yếu ở khu vực trung tâm đô thị. Các huyện vùng sâu vùng xa thiếu vắng sự hiện diện của tổ chức hành nghề luật sư. Công tác thanh tra, kiểm tra định kỳ đôi khi còn hình thức do thiếu hụt cán bộ chuyên trách. Nhiều vụ việc tư vấn pháp luật phức tạp đòi hỏi trình độ chuyên môn cao vẫn chưa được đáp ứng triệt để.

2.1. Kết quả thực tiễn trong quản lý luật sư tại Điện Biên

Cơ quan chức năng tỉnh Điện Biên triển khai kịp thời các chính sách phát triển nghề luật sư. Sở Tư pháp đã thực hiện tốt công tác đăng ký hoạt động và cấp phép cho các văn phòng luật sư mới. Đoàn luật sư tỉnh từng bước kiện toàn cơ cấu tổ chức và ban hành quy chế làm việc rõ ràng. Các luật sư tham gia tích cực vào các vụ án chỉ định theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng. Hoạt động trợ giúp pháp lý miễn phí cho đồng bào dân tộc thiểu số được mở rộng. Nhận thức của người dân địa phương về vai trò của luật sư được nâng cao rõ rệt.

2.2. Khó khăn và hạn chế trong quản lý hành nghề luật sư

Đội ngũ luật sư tại tỉnh Điện Biên còn già hóa và thiếu hụt lực lượng trẻ kế cận. Trình độ ngoại ngữ và kỹ năng tranh tụng thương mại quốc tế còn nhiều mặt hạn chế. Nguồn kinh phí hỗ trợ đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ còn eo hẹp. Cơ sở vật chất của Đoàn luật sư và các tổ chức hành nghề chưa đáp ứng tốt nhu cầu phát triển. Hoạt động tự quản của tổ chức xã hội nghề nghiệp đôi lúc chưa thực sự chủ động. Mối quan hệ phối hợp cung cấp thông tin giữa cơ quan tiến hành tố tụng và luật sư có thời điểm chưa thông suốt.

III. Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về luật sư ở Điện Biên

Để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về luật sư tại Điện Biên, cần triển khai nhóm giải pháp đồng bộ. Trước hết, tỉnh cần hoàn thiện cơ chế thu hút nhân lực chất lượng cao trong ngành luật. Các chính sách đãi ngộ cụ thể sẽ khuyến khích luật sư trẻ về công tác tại địa phương. Sở Tư pháp cần đổi mới phương thức quản lý theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu số giúp theo dõi hoạt động hành nghề minh bạch hơn.

Bên cạnh đó, việc tăng cường năng lực tự quản của Đoàn luật sư tỉnh là yêu cầu cấp thiết. Cơ quan nhà nước cần tạo điều kiện để tổ chức xã hội nghề nghiệp phát huy tối đa vai trò giám sát thành viên. Công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành phải được thực hiện thường xuyên và xử lý nghiêm minh các vi phạm. Cần đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến pháp luật nhằm nâng cao vị thế của luật sư trong cộng đồng. Sự phối hợp liên ngành giữa Công an, Viện kiểm sát, Tòa án và Sở Tư pháp cần được thể chế hóa chặt chẽ.

3.1. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển đội ngũ luật sư

Tỉnh Điện Biên cần xây dựng nghị quyết chuyên đề về phát triển dịch vụ pháp lý. Chính quyền địa phương nên có chính sách hỗ trợ tài chính cho các luật sư trẻ mới mở văn phòng. Việc tổ chức các khóa bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng tranh tụng cần được duy trì định kỳ. Cần khuyến khích liên kết đào tạo với các cơ sở nghiên cứu pháp luật uy tín ở trung ương. Địa phương cần có cơ chế ưu đãi thuế và địa điểm làm việc nhằm thu hút các tổ chức hành nghề luật sư về các huyện khó khăn. Nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ là tiền đề thúc đẩy tư pháp địa phương phát triển.

3.2. Nâng cao hiệu quả thanh tra kiểm tra hành nghề luật sư

Sở Tư pháp cần tăng cường thanh tra định kỳ và đột xuất các tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn. Trọng tâm kiểm tra tập trung vào hợp đồng dịch vụ pháp lý và việc chấp hành chế độ báo cáo. Các cơ quan chức năng cần thiết lập đường dây nóng tiếp nhận phản ánh tiêu cực trong hoạt động bổ trợ tư pháp. Việc xử lý vi phạm hành chính phải bảo đảm tính răn đe, công khai và minh bạch. Đồng thời, cơ quan quản lý cần phối hợp với Đoàn luật sư xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy tắc đạo đức. Kiểm tra chặt chẽ là biện pháp hữu hiệu nâng cao chất lượng hoạt động nghề nghiệp.

IV. Định hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về luật sư địa phương

Quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư tại tỉnh Điện Biên là nhiệm vụ chiến lược dài hạn. Đổi mới công tác quản lý góp phần xây dựng môi trường tư pháp lành mạnh và bảo vệ quyền con người. Kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn thạc sĩ luật kinh tế cung cấp luận cứ khoa học vững chắc cho địa phương. Các kiến nghị giải pháp có tính ứng dụng cao đối với chính quyền tỉnh Điện Biên trong giai đoạn mới.

Việc hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước giúp nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật trên toàn địa bàn. Các cơ quan quản lý tư pháp cần tiếp tục chủ động thích ứng với chuyển đổi số. Đầu tư cho phát triển đội ngũ luật sư chính là đầu tư cho sự ổn định an ninh chính trị và phát triển kinh tế xã hội. Xây dựng tổ chức luật sư vững mạnh tạo tiền đề cho quá trình hội nhập quốc tế của vùng Tây Bắc. Sự phối hợp đồng bộ giữa quản lý nhà nước và tự quản nghề nghiệp sẽ bảo đảm công lý luôn được thực thi nghiêm minh.

4.1. Ứng dụng thực tiễn trong công tác tư pháp tại Điện Biên

Các cơ quan tư pháp địa phương có thể áp dụng các đề xuất quản lý vào thực tế công tác. Sở Tư pháp cần số hóa toàn bộ hồ sơ quản lý luật sư và văn phòng hành nghề. Việc xây dựng cổng thông tin tra cứu luật sư giúp người dân dễ dàng tiếp cận dịch vụ pháp lý tin cậy. Các cơ quan tố tụng cần bảo đảm quyền hành nghề và tạo điều kiện cho luật sư tiếp cận hồ sơ vụ án nhanh chóng. Mô hình liên kết giải quyết tranh chấp thông qua luật sư hòa giải cần được triển khai thí điểm. Đây là bước đi cụ thể nhằm tối ưu hóa hiệu quả tư pháp tại cơ sở.

4.2. Tầm nhìn chiến lược cho nghề luật sư vùng trung du miền núi

Quy hoạch phát triển nghề luật sư tại tỉnh Điện Biên cần gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế vùng Tây Bắc. Mục tiêu đến những năm tiếp theo là gia tăng nhanh số lượng và nâng tầm chất lượng luật sư. Tỉnh cần xây dựng các tổ chức hành nghề luật sư chuyên sâu về đầu tư, đất đai và bảo vệ môi trường. Các chương trình phổ biến giáo dục pháp luật cần có sự đồng hành tích cực của đội ngũ luật sư. Sự phát triển vững chắc của nghề luật sư góp phần thu hút đầu tư và giữ vững an ninh biên giới quốc gia.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths luật kt quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh điện biên thực trạng và giải pháp

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LUẬT SƯ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ, QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LUẬT SƯ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ 1. Khái quát chung về luật sư và hành nghề luật sư 1. Khái niệm luật sư Luật sư là chức danh nghề nghiệp của người được công nhận có đủ tiêu chuẩn, điều kiện "hành nghề luật sư" theo quy định của pháp luật. Trong đó, "hành nghề luật sư" là việc luật sư thực hiện những việc chuyên môn, nghiệp vụ trong phạm vi chức danh nghề nghiệp của mình theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, nói đến "nghề luật sư" là nói đến một nghề trong xã hội, nghề của những người được công nhận là luật sư. Nói đến nghề luật sư là nói đến cái chung, còn nói đến luật sư là nói đến cái cụ thể, đến con người cụ thể. Tuy nhiên tùy thuộc vào pháp luật truyền thống của từng nước mà khái niệm, tiêu chuẩn và điều kiện, phạm vi HNLS được quy định khác nhau 2. Luật sư hành nghề bằng kiến thức pháp luật, kỹ năng nghề nghiệp của cá nhân luật sư.

Nói cách khác, phẩm chất và năng lực cá nhân của luật sư là yếu tố quyết định trong nghề luật sư. Nhìn chung, người muốn HNLS phải được công nhận là luật sư. Pháp luật các nước trên thế giới thường không đưa ra khái niệm luật sư mà chỉ quy định về tiêu chuẩn (qualification) để trở thành luật sư. Theo đó, tiêu chuẩn phổ biến để được công nhận luật sư là: - Là công dân của ở nước sở tại; - Có bằng cử nhân luật; - Có phẩm chất đạo đức tốt; Ngoài các tiêu chuẩn trên, muốn trở thành luật sư phải qua đào tạo nghề, tập sự HNLS hoặc chỉ cần đỗ kỳ thi quốc gia để được công nhận luật sư và điều đó còn phụ vào quy định của pháp luật của mỗi nước 3.

Nguyễn Văn Tuân (2012), Một số vấn đề về luật sư và nghề luật sư, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr. Nguyễn Văn Tuân, tlđd, tr. 8 Căn cứ vào pháp luật của các nước trên thế giới quy định về tiêu chuẩn luật sư và quy trình trở thành luật sư, có thể phân được thành các nhóm sau: Thứ nhất, qua một kỳ thi quốc gia mà không phải đào tạo nghề và tập sự HNLS. Ví dụ như ở Hoa kỳ.

Thứ hai, phải qua đào tạo nghề, nhưng không phải qua tập sự HNLS. Ví dụ như ở Nhật Bản. Thứ ba, phải qua hai giai đoạn đào tạo nghề. Ví dụ như ở Anh.

Thứ tư, phải qua đào tạo nghề và tập sự HNLS. Ví dụ như ở Pháp. Thứ năm, có thể lựa chọn giữa đào tạo nghề hoặc thực tập HNLS. Ví dụ như ở bang Victoria - Australia.

Thứ sáu, phải qua một kỳ thi quốc gia công nhận đủ tiêu chuẩn luật sư và tập sự HNLS. Ví dụ như ở Trung Quốc. Thứ bảy, phải qua hai kỳ thi. Ví dụ như ở Cộng hòa Liên bang Đức.

Theo quy định pháp luật về luật sư của một số nước trên thế giới, có thể rút ra một số nhận xét sau: - Khái niệm luật sư được hiểu là người có đủ tiêu chuẩn luật sư và được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận chức danh nghề nghiệp luật sư. - Về tiêu chuẩn trở thành luật sư, pháp luật các nước rất chú trọng đến tiêu chuẩn về trình độ. Tuy nhiên, việc xác định trình độ chuyên của một người muốn trở thành luật sư thì được đánh giá bằng việc thi quốc gia hoặc thông qua khóa đào tạo nghề. Về tập sự HNLS thì rất ít nước quy định hoặc quy định mang tính hình thức, có nghĩa là sau kỳ tập sự không phải kiểm tra hoặc trong thời gian tập sự vẫn được hành nghề như luật sư chính thức.

Ngoài ra, còn cho phép người muốn trở thành luật sư có quyền lựa chọn một trong các hình thức là qua đào tạo nghề hoặc hoặc qua thực tập luật sư. - Thẩm quyền công nhận luật sư có thể là Tòa án tối cao hay Bộ Tư pháp hoặc chỉ cần đăng ký gia nhập một Đoàn luật sư thì trở thành luật sư 4. Khái niệm luật sư luôn là vấn đề gặp nhiều khó khăn trong quá trình xây dựng pháp luật về luật sư và HNLS. Tham khảo pháp luật về luật sư một số nước cho thấy, 4.

Nguyễn Văn Tuân, tlđd, tr. 9 không phải nước nào cũng đưa ra khái niệm hoặc định nghĩa về luật sư. Khái niệm luật sư quy định không giống nhau giữa các nước trên thế giới. Hầu hết ở các nước có nghề luật sư phát triển, việc đưa ra khái niệm hoặc định nghĩa về luật sư chỉ mang tính quy ước, khái niệm luật sư thường mang tính hình thức hơn là khái niệm về mặt nội dung.

Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987 của nước ta đã chính thức hóa thuật ngữ "luật sư". Tuy nhiên, Pháp lệnh chưa đưa ra được một khái niệm hay định nghĩa hoàn chỉnh về luật sư. Theo quy định Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987, người muốn trở thành luật sư phải gia nhập Đoàn luật sư. Thành viên của Đoàn luật sư là các luật sư và luật sư tập sự.

Một người muốn trở thành luật sư hoàn toàn do Hội nghị toàn thể Đoàn luật sư quyết định. Pháp lệnh luật sư năm 2001 được ban hành thay thế Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987. Pháp lệnh Luật sư năm 2001 đã định nghĩa: "Luật sư là người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của Pháp lệnh này và tham gia hoạt động tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật, các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật" (khoản 1 Điều 1). Kế thừa và phát triển những quy định nêu trên, Luật luật sư sửa đổi năm 2012 định nghĩa "Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng)" (Điều 2).

Như vậy, khái niệm luật sư ở nước ta được thể hiện theo hướng xác lập chức danh luật sư gắn với nghề luật sư và điều kiện HNLS theo quy định của pháp luật. Khái niệm hành nghề luật sư Trong ngôn ngữ Việt Nam, chúng ta thường gặp thuật ngữ "hành nghề luật sư", "nghề luật sư". Thực ra như vậy không hoàn toàn chính xác về mặt ngôn ngữ, bởi vì "luật sư" là danh từ chỉ người, chứ không phải chỉ nghề. Theo thói quen của việc sử dụng ngôn ngữ Việt Nam trong văn nói cũng như văn viết thì thuật ngữ "nghề luật sư" có thể chấp nhận được, cũng như thuật ngữ "nghề kiến trúc sư", "nghề bác sĩ", "nghề giáo viên"… còn trong tiếng Anh có thể dịch "lawyer" là luật sư và "paractice of law" là HNLS hoặc hành nghề luật.

Tuy nhiên, thuật ngữ "nghề luật" và "hành nghề luật" 10 thì sẽ được hiểu rộng hơn "nghề luật sư" và "hành nghề luật sư", bởi nghề thẩm phán, nghề công tố… cũng có thể được hiểu là nghề luật 5. Pháp lệnh luật sư năm 2001 chính thức chấp nhận các cụm từ "nghề luật sư", "nghề nghiệp luật sư" và "hành nghề luật sư". Theo quy định của Pháp lệnh này thì "hành nghề luật sư" được hiểu là việc luật sư tham gia hoạt động tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật, các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật (khoản 1 Điều 1). Luật luật sư sửa đổi năm 2012 đã khái quát, mở rộng hơn khái niệm "hành nghề luật sư".

Theo đó, HNLS là việc luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý bao gồm tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng và làm các dịch vụ pháp lý (Điều 4). "Hành nghề luật sư" theo quy định của Luật luật sư sửa đổi năm 2012 là phải hành nghề chuyên nghiệp, có trình độ chuyên môn sâu về kiến thức pháp lý và kỹ năng hành nghề. Việc HNLS chủ yếu bằng trình độ và kinh nghiệm chuyên môn mà đối tượng phục vụ là khách hàng. Luật sư cung cấp "dịch vụ pháp lý" cho khách hàng và nhận thù lao từ khách hàng.

Chức năng xã hội của luật sư là tham gia bảo vệ công lý, góp phần bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân, bảo vệ quyền, lợi ích của hợp pháp của cá nhân, tổ chức thông qua việc tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng, tư vấn pháp luật và thực hiện dịch vụ pháp lý khác. Các nước trên thế giới và các nước trong khu vực đều có quan niệm chung là coi nghề luật sư là một nghề đặc biệt so với các ngành nghề khác. Tính đặc thù của nghề luật sư được thể hiện như sau: Thứ nhất, nghề luật sư không lấy điểm xuất phát là vốn và cũng không dựa vào vốn mà chủ yếu dựa vào kiến thức pháp luật và kỹ năng hành nghề của luật sư. Nghề luật sư gắn với pháp luật và việc thi hành pháp luật.

Chính vì vậy luật sư trước hết là một chuyên gia pháp luật, một cố vấn pháp luật. Theo đó, để có những kỹ năng nghề nghiệp thực thụ, các luật sư cần có kiến thức pháp luật, thông thạo kỹ năng nghề nghiệp để thực hiện tốt nhiệm vụ cung cấp dịch vụ pháp lý của mình. Luật sư phải là 5. Nguyễn Văn Tuân, tlđd, tr.

11 người có bằng cử nhân luật, qua đào tạo nghề luật sư và tập sự HNLS (Điều 10 Luật luật sư sửa đổi năm 2012). Thứ hai, luật sư với tư cách là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể pháp lý nên luật sư có nhiệm vụ đảm bảo sự công bằng, khách quan của pháp luật. Thông qua việc tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật và cung cấp các dịch vụ pháp lý khác, luật sư góp phần trực tiếp vào việc thi hành pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống. Vì thế, các nước trên thế giới đều cho rằng nghề luật sư là một nghề trong xã hội, là công cụ hữu hiệu góp phần bảo vệ công lý.

Bằng hoạt động nghề nghiệp của mình luật sư góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh (Điều 3 Luật luật sư sửa đổi năm 2012). Thứ ba, nguyên tắc của nghề luật sư là phải độc lập, liêm chính, nhân đạo và dũng cảm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ