Công nhận sự thỏa thuận của đương sự tố tụng dân sự tại Lạng Sơn

Luận văn thạc sĩ luật kinh tế về công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự cùng thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
81
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan công nhận sự thỏa thuận của đương sự tố tụng dân sự

Công nhận sự thỏa thuận của đương sự là chế định pháp lý quan trọng trong tố tụng dân sự Việt Nam. Chế định này thể hiện nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt và tự do ý chí của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã hoàn thiện nhiều quy định mới theo hướng mở rộng dân chủ, công khai và minh bạch. Tòa án đóng vai trò trung gian hỗ trợ các bên tìm kiếm giải pháp giải quyết tranh chấp một cách hòa bình. Thủ tục này giúp các bên tiết kiệm đáng kể thời gian, tiền bạc và công sức so với việc đưa vụ án ra xét xử công khai. Văn bản công nhận sự thỏa thuận có giá trị pháp lý bắt buộc như một bản án đã có hiệu lực thi hành. Các bên đương sự không có quyền kháng cáo theo trình tự phúc thẩm thông thường. Quyết định chỉ có thể bị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm khi có căn cứ do nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc vi phạm pháp luật. Việc áp dụng đúng quy định giúp giảm tải gánh nặng công việc cho cơ quan tư pháp.

1.1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của thỏa thuận đương sự

Công nhận sự thỏa thuận là hành vi tố tụng do Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử thực hiện. Hoạt động này nhằm xác lập giá trị pháp lý cho sự thống nhất ý chí của các bên. Đặc điểm cốt lõi của chế định là tính tự nguyện và không trái đạo đức xã hội. Nội dung thỏa thuận phải hoàn toàn nằm trong khuôn khổ pháp luật cho phép. Quyết định công nhận mang tính tài phán nhưng dựa trên nền tảng đồng thuận. Văn bản này có hiệu lực thi hành ngay đối với tất cả các bên tham gia. Tòa án không được tự ý sửa đổi nội dung cam kết mà chỉ kiểm tra tính hợp pháp của thỏa thuận.

1.2. Vai trò và nguyên tắc giải quyết tranh chấp dân sự

Chế định công nhận sự thỏa thuận giữ vị trí trung tâm trong việc duy trì trật tự xã hội. Cơ chế này củng cố tinh thần đoàn kết nội bộ và hạn chế mâu thuẫn kéo dài. Các bên tham gia chủ động định đoạt tài sản và quyền lợi cá nhân theo ý muốn. Quy trình hòa giải thành công giúp giảm bớt chi phí xét xử và thi hành án. Nguyên tắc tôn trọng sự tự nguyện luôn được đặt lên hàng đầu trong suốt quá trình tố tụng. Tòa án bảo đảm các bên hiểu rõ quyền hạn trước khi ký vào biên bản hòa giải thành. Việc này tạo tiền đề vững chắc cho việc tự nguyện thi hành nghĩa vụ pháp lý.

II. Thực trạng công nhận sự thỏa thuận đương sự tại TAND Lạng Sơn

Lạng Sơn là tỉnh miền núi biên giới với đặc thù địa hình phức tạp và dân cư phân tán. Nhiều đồng bào dân tộc thiểu số cư trú tại các vùng sâu, vùng xa có nhận thức pháp luật chưa đồng đều. Các Tòa án nhân dân tại tỉnh Lạng Sơn đã nỗ lực triển khai công tác hòa giải theo tinh thần cải cách tư pháp. Tỷ lệ các vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình và kinh doanh thương mại được công nhận sự thỏa thuận đạt tỷ lệ khả quan. Thẩm phán các cấp luôn kiên trì giải thích, vận động đương sự tìm tiếng nói chung. Dẫu vậy, quá trình áp dụng pháp luật tại địa phương vẫn bộc lộ nhiều khó khăn đặc thù. Một số biên bản hòa giải thành chưa ghi nhận đầy đủ chi tiết thỏa thuận về quyền sử dụng đất rừng. Nhận thức hạn chế dẫn đến tình trạng đương sự thay đổi ý kiến ngay sau khi ký biên bản. Rào cản ngôn ngữ và tập quán địa phương đôi khi làm kéo dài thời gian thương lượng. Cơ sở vật chất và phương tiện hỗ trợ tống đạt văn bản tố tụng tại vùng cao còn thiếu thốn.

2.1. Kết quả áp dụng thỏa thuận đương sự tại TAND hai cấp

Thống kê thực tiễn cho thấy số lượng vụ việc hòa giải thành tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Lạng Sơn tăng đều. Các tranh chấp về hôn nhân gia đình, vay mượn tài sản và hợp đồng thương mại được giải quyết dứt điểm. Việc công nhận sự thỏa thuận giúp giảm tải áp lực xét xử sơ thẩm và phúc thẩm. Tỷ lệ các bên tự nguyện chấp hành quyết định đạt mức rất cao. Đội ngũ cán bộ Tòa án chú trọng tuyên truyền chính sách pháp luật trực tiếp đến người dân. Tinh thần trách nhiệm và đạo đức công vụ của đội ngũ Thẩm phán được nâng cao rõ rệt.

2.2. Khó khăn và bất cập trong quá trình giải quyết vụ án

Một số vụ án có tính chất phức tạp liên quan đến quyền sử dụng đất canh tác và lâm nghiệp. Các đương sự tại vùng sâu thường thiếu giấy tờ chứng minh nguồn gốc tài sản hợp pháp. Điều này khiến Thẩm phán gặp khó khăn khi kiểm tra tính hợp pháp của nội dung thỏa thuận. Bên cạnh đó, thời hạn chuẩn bị xét xử đôi khi bị kéo dài do việc thu thập chứng cứ bị cản trở bởi địa hình. Trình độ nghiệp vụ của một số Thẩm phán trẻ tại cấp huyện chưa thực sự đồng đều. Tình trạng đương sự khiếu nại sau khi có quyết định công nhận vẫn xảy ra rải rác.

III. Giải pháp công nhận sự thỏa thuận của đương sự ở TAND Lạng Sơn

Hoàn thiện cơ chế công nhận sự thỏa thuận đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ nhiều biện pháp lập pháp và thực thi. Trước hết, các cơ quan có thẩm quyền cần ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết về quy trình kiểm tra tính tự nguyện. Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn cần tiếp tục bồi dưỡng kỹ năng dân vận và đàm phán cho Thẩm phán. Thẩm phán phải chủ động lắng nghe tâm tư và giải thích cặn kẽ quyền lợi cho người dân. Sự kiên trì và linh hoạt trong hòa giải là chìa khóa giải quyết dứt điểm mâu thuẫn. Bên cạnh đó, công tác phối hợp liên ngành giữa Tòa án, Viện kiểm sát và chính quyền địa phương cần được thắt chặt. Việc huy động già làng, trưởng bản và người có uy tín tham gia đối thoại mang lại hiệu quả rất lớn. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ và tống đạt giấy tờ giúp rút ngắn thủ tục hành chính. Tăng cường trợ giúp pháp lý miễn phí tạo điều kiện cho người nghèo và đồng bào dân tộc tiếp cận công lý bình đẳng.

3.1. Hoàn thiện quy định pháp luật về tố tụng dân sự

Hệ thống pháp luật cần bổ sung hướng dẫn rõ ràng về hậu quả pháp lý khi đương sự vi phạm cam kết. Các tiêu chí xác định tính hợp pháp của thỏa thuận chuyển nhượng đất đai miền núi cần được cụ thể hóa. Quy định về hòa giải tiền tố tụng và hòa giải tại Tòa án cần có sự kết nối chặt chẽ hơn. Cần kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử đối với các vụ việc ở địa bàn đặc biệt khó khăn. Quy định này giúp Thẩm phán có đủ thời gian thẩm định thực địa và xác minh nguồn gốc tài sản tranh chấp. Việc hoàn thiện khung pháp lý tạo điểm tựa vững chắc cho hoạt động xét xử.

3.2. Nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ Tòa án Lạng Sơn

Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn cần chú trọng bồi dưỡng tiếng dân tộc và kiến thức văn hóa địa phương cho cán bộ. Việc hiểu rõ phong tục tập quán giúp Thẩm phán dễ dàng tạo lập sự tin cậy từ đương sự. Các lớp tập huấn chuyên sâu về kỹ năng điều hành phiên hòa giải cần được tổ chức định kỳ. Đội ngũ Thư ký Tòa án phải nắm vững kỹ năng ghi chép biên bản chính xác và chặt chẽ. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các chức danh tư pháp nâng cao chất lượng giải quyết án. Tăng cường đầu tư trang thiết bị làm việc tại các Tòa án cấp huyện là yêu cầu cấp thiết.

IV. Ý nghĩa thực tiễn công nhận sự thỏa thuận đương sự tại Lạng Sơn

Nghiên cứu về công nhận sự thỏa thuận của đương sự mang giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đề tài luận văn thạc sĩ luật kinh tế làm sáng tỏ các quy định pháp luật và đánh giá đúng thực trạng tại Lạng Sơn. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo hữu ích cho cán bộ tư pháp và học viên ngành luật. Việc áp dụng linh hoạt các giải pháp đề xuất góp phần nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án nhân dân hai cấp. Hòa giải thành công giúp hàn gắn rạn nứt trong quan hệ gia đình và đối tác kinh doanh. Hơn thế nữa, hoạt động này giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh biên giới. Người dân nâng cao nhận thức và chủ động tìm đến giải pháp đối thoại hòa bình khi có tranh chấp. Đây là nhân tố then chốt thúc đẩy sự phát triển kinh tế và thương mại bền vững tại Lạng Sơn. Những bài học kinh nghiệm tại địa phương có thể áp dụng rộng rãi cho các tỉnh miền núi khác trên toàn quốc.

4.1. Đóng góp cho công tác nghiên cứu học thuật luật kinh tế

Luận văn thạc sĩ hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quyền tự định đoạt của đương sự. Các phân tích luật so sánh và số liệu thực chứng làm phong phú thêm kho tàng nghiên cứu luật tố tụng dân sự. Công trình cung cấp cái nhìn thực tế về việc áp dụng pháp luật tại địa bàn miền núi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Đề tài mở ra các hướng tiếp cận mới trong việc nghiên cứu hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ngoài Tòa án. Đây là nguồn tư liệu có giá trị khoa học cho sinh viên và giới nghiên cứu luật học.

4.2. Giá trị ứng dụng thực tiễn trong công tác xét xử địa phương

Các giải pháp thực tiễn hỗ trợ đắc lực cho đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn nâng cao tỷ lệ hòa giải thành. Việc áp dụng đúng quy trình giúp giảm thiểu tối đa các sai sót dẫn đến kháng nghị giám đốc thẩm. Cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành các quyết định công nhận nhanh chóng và thuận lợi hơn. Mối quan hệ giữa các chủ thể kinh doanh và người dân địa phương được củng cố sau tranh chấp. Mô hình giải quyết mâu thuẫn dựa trên đối thoại góp phần xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh an toàn và minh bạch.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths luật kt công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự và thực tiễn tại các tòa án nhân dân ở tỉnh lạng sơn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ NỘI DUNG QUY ĐỊNH VỀ CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò và cơ sở khoa học của việc công nhận thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự 1. Khái niệm công nhận thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự Để làm rõ khái niệm công nhận thỏa thuận của đương sự trong TTDS cần phải làm rõ một số khái niệm cơ bản, trong đó: Về khái niệm thỏa thuận dân sự: Thỏa thuận dân sự - nhân tố cốt lõi của quyền dân sự và là giá trị căn bản trong quan hệ dân sự nói chung. Trong mối quan hệ đó có 02 nguyên tắc cơ bản đó là (i) Tôn trọng sự thỏa thuận; và (ii) Tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự.

Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng quy định rất rõ về vấn đề này như một nguyên tắc cơ bản và xuyên suốt quá trình xem xét giải quyết các quan hệ dân sự nói chung và các tranh chấp phát sinh nói riêng. Ngay tại phần Những quy định chung của BLDS 2015 đã khẳng định và ràng buộc trách nhiệm trong việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự (Điều 2), cụ thể: "Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền dân sự được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật". Hiểu một cách ngắn gọn, khi pháp luật ghi nhận quyền của một cá nhân/tổ chức thì cũng đồng nghĩa với việc sẽ có cơ chế được thiết lập để đảm bảo cho những quyền đó được thực thi và không bị xâm phạm. Theo đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cá nhân/tổ chức được quyền thực hiện nhiều biện pháp khác nhau như yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác bảo vệ và trong đó có một cơ chế quan trọng là quyền tự giải quyết.

Về khái niệm "Công nhận": Theo Từ điển tiếng Việt thì công nhận là sự thừa nhận trước mọi người một điều gì đó là phù hợp với sự thật, với lẽ phải hoặc với thể lệ, luật pháp3. Viện Ngôn ngữ học (1994), Từ điển tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 8 Về khái niệm "Sự thỏa thuận": dưới góc độ ngôn ngữ học được Đại từ điển Tiếng Việt định nghĩa thì "Thỏa thuận" được hiểu là "Nhất trí, đồng ý với nhau sau khi bàn bạc"4. Theo đó có thể hiểu ngắn gọn rằng thỏa thuận là sự thống nhất chung mà không có bất kỳ sự đối lập nào khác giữa các bên liên quan.

Đặc biệt, trong một mối quan hệ có tranh chấp thì thỏa thuận còn hàm chứa ý nghĩa của sự tự nguyện, quyền tự định đoạt và thuận tình về ý chí và lý chí giữa các bên. Về khái niệm "Đương sự": Từ điển Luật học năm 2006 giải thích "Đương sự là cá nhân, pháp nhân tham gia tố tụng dân sự với tư cách là nguyên đơn hoặc bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đương sự là một trong các nhóm người tham gia tố tụng dân sự tại Tòa án nhân dân trong các vụ kiện về dân sự, kinh doanh, thương mại, hôn nhân gia đình và lao động" 5. Theo đó, đương sự ở đây được hiểu là không chỉ bao gồm cả những cá nhân mà còn bao gồm cả tổ chức với người đại diện hợp pháp theo quy định của pháp luật tham gia vào quá trình tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyền, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến VVDS.

Từ những luận giải nêu trên, có thể hiểu CNSTT của đương sự là hoạt động của Tòa án trong việc tiến hành xem xét, thừa nhận sự thỏa thuận của các đương sự liên quan tới việc giải quyết VVDS trên cơ sở các quy định của pháp luật. Đặc điểm công nhận thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự 1. Thỏa thuận của đương sự là một quyền tự định đoạt Theo đó, Điều 5 (Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự) BLTTDS 2015 quy định: "1/ Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Trong đó, sự thỏa thuận của đương sự và yêu cầu CNSTT này có thể được thực hiện dưới hình thức một việc dân sự trên cơ sở đương sự tự định đoạt việc "Yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án" - Khoản 7 Điều 27 (Những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án) BLTTDS 4.

Nguyễn Như Ý (Chủ biên) (1998), Đại Từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr. Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách Khoa và Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr. Khi đó, thỏa thuận này được hiểu là đương sự đã thực hiện quyền tự định đoạt trước khi có bất kỳ Đơn khởi kiện hoặc yêu cầu nào gửi cho Tòa án có thẩm quyền để giải quyết VVDS. "2/ Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện…".

Ở đây, ngay cả khi xảy ra tranh chấp/yêu cầu tới Tòa án để giải quyết theo sự điều hành của đại diện Tòa án trên cơ sở quy định của pháp luật TTDS thì quyền tự định đoạt của đương sự vẫn không bị khước từ và các đương sự vẫn có thể thực hiện bình thường. Tuy nhiên, việc tự định đoạt này rõ ràng không phải là không có giới hạn. Để làm rõ hơn mệnh đề này, tác giả xin được trình bày chi tiết trong các phần sau của luận văn. Tòa án - Chủ thể được Nhà nước trao quyền để thực hiện việc công nhận sự thỏa thuận của đương sự Khi tham gia vào quá trình giải quyết VVDS tại Tòa án, có rất nhiều chủ thể khác nhau - Tòa án, Viện kiểm sát và các chủ thể khác tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của người khác (ví dụ: Luật sư/Người được ủy quyền hợp pháp khác.) hoặc chủ thể hỗ trợ Tòa án trong quá trình giải quyết VVDS.

Như đã phân tích ở Mục 1.1 nêu trên, việc thỏa thuận của đương sự có thể do các đương sự tự thỏa thuận với nhau hoặc do một bên thứ ba (đại diện của Tòa án hoặc bên thứ ba khác) thực hiện hòa giải thì việc CNSTT của đương sự phải được thực hiện thông qua Tòa án để đảm bảo giá trị pháp lý và tính ràng buộc cao hơn (về phần này, tác giả sẽ làm rõ hơn tại Mục 1. Căn cứ Điều 102 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 quy định: "Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền tư pháp" - Theo đó, Tòa án là cơ quan có thẩm quyền xét xử các vụ việc bao gồm VVDS. Do đó, nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết VVDS thì khi đó Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử (tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng của VVDS) sẽ ra quyết định CNSTT của đương sự. Thỏa thuận được công nhận của đương sự phải xuất phát từ ý chí tự nguyện, nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội.

Xét về mặt nội dung, thỏa thuận của các đương sự trong trường hợp này cũng mang vai trò như một giao dịch dân sự. Đương sự là các chủ thể chính trong quan hệ pháp luật này, do đó chỉ đương sự mới có quyền tự thực hiện thông qua hành vi tố tụng của mình để thương lượng, thỏa thuận với nhau và/hoặc thông qua sự hỗ trợ của bên thứ ba (bao gồm cả Tòa án) để thống nhất thỏa thuận giải quyết vụ việc. Do đó, theo quan điểm của tác giả, khi xem xét hiệu lực của một thỏa thuận dân sự chúng ta cũng cần xem xét trên khía cạnh hiệu lực của một giao dịch dân sự. Theo đó, có thể tham chiếu quy định tại Khoản 1 Điều 117 (Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự) BLDS 2015 quy định: "Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập; b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện; c) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội".

Cùng với đó, bám sát với tinh thần của Hiến pháp mà cụ thể là Khoản 4 Điều 15 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 ghi nhận: "Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác". Ở đây, yếu tố cần đặc biệt được chú trọng đến đó là việc thỏa thuận giữa các đương sự chỉ đạt được và chỉ được Tòa án công nhận trên cơ sở thương lượng một cách tự nguyện, trung thực, hợp lý, hợp tình và không một ai với bất kỳ một hình thức nào có thể lừa dối, đe dọa hay cưỡng ép đương sự trong việc đi tới thỏa thuận này. Có một vấn đề đặt ra là, giả sử văn bản thỏa thuận giữa các đương sự (lập trước khi được đưa ra Tòa án để yêu cầu CNSTT) ghi nhận dòng nội dung như sau "Trên tinh thần tự hoàn toàn tự nguyện và bình đẳng, chúng tôi - những người có tên nêu dưới đây thống nhất các nội dung điều khoản và điều kiện của Thỏa thuận giải quyết vụ việc như sau:…". Tuy nhiên đến khi Tòa thụ lý thực hiện các thủ tục để CNSTT thì có ít nhất 1 trong các bên nêu ý kiến phản đối vì lý do cho rằng Thỏa thuận 11 bằng văn bản ấy được lập không trên cơ sở tự nguyện thì sẽ giải quyết như nào? Theo tác giả, câu trả lời được xoay quoanh 2 vấn đề chính: (i) Bản chất nội dung thỏa thuận được xem là yếu tố cốt lõi để giải quyết sự việc mà không phải chỉ dựa vào hình thức của văn bản thỏa thuận; (ii) Sự việc này xảy ra có đồng nghĩa với việc phát sinh tranh chấp và giải quyết theo thủ tục của một VADS hay không hay Tòa án vẫn sẽ xem xét để CNSTT này mặc dù có ít nhất 1 bên đương sự đang phản đối?

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ