Luận văn: Thực tiễn hòa giải vụ án dân sự tại TAND thành phố Lạng Sơn

Luận văn thạc sĩ luật kinh tế nghiên cứu thực tiễn hòa giải các vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp.

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
69
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan thực tiễn hòa giải các vụ án dân sự tại TAND TP Lạng Sơn

Hòa giải vụ án dân sự là nguyên tắc cơ bản trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam. Thiết chế này phản ánh bản chất nhân văn và tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự. Tại Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, công tác hòa giải giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc ổn định an ninh trật tự địa phương. Lạng Sơn là đô thị cửa khẩu biên giới với cơ cấu dân cư đa dạng và hoạt động kinh tế phát triển sôi động. Tình hình tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại và hôn nhân gia đình tại đây diễn ra phong phú và phức tạp. Thực tiễn áp dụng cho thấy hòa giải thành giúp giải quyết dứt điểm mâu thuẫn giữa các bên mà không cần mở phiên tòa sơ thẩm. Hoạt động này tiết kiệm đáng kể thời gian, chi phí và công sức của cơ quan tư pháp lẫn người dân. Đồng thời, kết quả hòa giải tự nguyện góp phần củng cố khối đại đoàn kết cộng đồng. Việc nghiên cứu thực tiễn hòa giải tại địa bàn thành phố Lạng Sơn mang lại cái nhìn toàn diện về tính hiệu quả của các quy định tố tụng hiện hành.

1.1. Cơ sở pháp lý về hòa giải vụ án dân sự theo BLTTDS 2015

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 dành nhiều điều khoản để quy định chi tiết về thủ tục hòa giải. Nguyên tắc hòa giải được quán triệt xuyên suốt từ giai đoạn chuẩn bị xét xử. Thẩm phán có trách nhiệm giải thích quyền, nghĩa vụ và tạo điều kiện để các đương sự thỏa thuận. Pháp luật quy định cụ thể về thành phần tham gia, trình tự tiến hành và các trường hợp không được hòa giải. Đối với các vụ án lao động hay tranh chấp thương mại, sự tham gia của tổ chức đại diện bảo vệ quyền lợi hợp pháp là điểm mới đáng chú ý. Các nguyên tắc tự nguyện, thiện chí và không trái đạo đức xã hội luôn được đặt lên hàng đầu.

1.2. Vai trò của hòa giải đối với TAND thành phố Lạng Sơn

Hòa giải thành công mang lại lợi ích thiết thực cho hệ thống Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn. Trước hết, hoạt động này giảm bớt khối lượng thụ lý và áp lực xét xử cho Thẩm phán trong bối cảnh tranh chấp ngày càng gia tăng. Tỷ lệ hòa giải thành cao là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng công tác chuyên môn của đơn vị. Hơn nữa, việc đương sự tự thỏa thuận giúp giảm thiểu tình trạng kháng cáo, kháng nghị kéo dài. Quyết định công nhận sự thỏa thuận có hiệu lực pháp luật ngay, tạo thuận lợi lớn cho giai đoạn thi hành án dân sự. Qua đó, niềm tin của nhân dân vào cơ quan tư pháp được nâng cao vững chắc.

II. Thực trạng và vướng mắc hòa giải các vụ án dân sự tại TP Lạng Sơn

Thực tiễn hòa giải vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn đã đạt được nhiều chuyển biến tích cực. Đội ngũ Thẩm phán chủ động áp dụng các phương pháp dân vận khéo léo để khơi gợi thiện chí giữa các bên. Tỷ lệ hòa giải thành trong các tranh chấp hôn nhân gia đình và tranh chấp hợp đồng vay mượn tài sản đạt mức khả quan. Tuy nhiên, công tác này vẫn đối diện với nhiều rào cản và khó khăn từ cả phương diện quy định lẫn thực tiễn thi hành. Một số quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chưa có hướng dẫn rõ ràng, gây lúng túng cho Thẩm phán khi xử lý tình huống phức tạp. Đơn cử như việc xác định điều kiện không ảnh hưởng đến quyền của đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải còn thiếu tính thống nhất. Bên cạnh đó, việc thay đổi ý kiến trong thời hạn 7 ngày sau khi lập biên bản hòa giải thành phát sinh nhiều tranh cãi về mặt thủ tục. Trình độ và tâm lý cố chấp của một bộ phận đương sự cũng khiến quá trình hòa giải kéo dài, làm giảm hiệu suất chung.

2.1. Bất cập về quy định pháp lý và hướng dẫn áp dụng

Hệ thống văn bản pháp luật tố tụng hiện hành còn tồn tại những khoảng trống kỹ thuật. Điều 212 BLTTDS năm 2015 quy định thời hạn 7 ngày để đương sự thay đổi ý kiến. Quy định này chưa nêu rõ cách xử lý khi các bên đạt được thỏa thuận mới trong thời hạn đó. Tòa án nhân dân Tối cao chưa ban hành nghị quyết thay thế Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP để hướng dẫn việc hòa giải khi vắng mặt đương sự. Việc thiếu hướng dẫn chi tiết khiến các Thẩm phán tại TAND thành phố Lạng Sơn gặp khó khăn trong việc áp dụng thống nhất. Những vướng mắc pháp lý này dễ dẫn đến nguy cơ quyết định hòa giải bị kháng nghị giám đốc thẩm.

2.2. Hạn chế về kỹ năng hòa giải và nhận thức đương sự

Bên cạnh yếu tố quy định, kỹ năng thực tế của Thẩm phán đóng vai trò then chốt đối với kết quả hòa giải. Một số Thẩm phán trẻ còn thiếu kinh nghiệm nắm bắt tâm lý và phương pháp thuyết phục đương sự. Không khí phiên hòa giải đôi khi còn mang tính hành chính cứng nhắc, chưa tạo được sự cởi mở. Mặt khác, nhận thức pháp luật của một bộ phận người dân tại địa phương còn hạn chế. Nhiều đương sự mang tâm lý đối đầu gay gắt hoặc cố tình che giấu chứng cứ quan trọng. Sự thiếu hợp tác này cản trở nghiêm trọng quá trình tìm kiếm tiếng nói chung giữa các chủ thể tranh chấp.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả hòa giải vụ án dân sự ở TAND Lạng Sơn

Để nâng cao chất lượng hòa giải vụ án dân sự tại TAND thành phố Lạng Sơn, việc thực hiện đồng bộ nhiều nhóm giải pháp là yêu cầu cấp thiết. Trước tiên, cơ quan lập pháp và Tòa án nhân dân Tối cao cần khẩn trương hoàn thiện khung pháp lý tố tụng. Việc ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể sẽ tháo gỡ điểm nghẽn cho cơ sở. Về phía Tòa án cấp cơ sở, trọng tâm là xây dựng nguồn nhân lực tư pháp vững vàng chuyên môn và am hiểu tâm lý. TAND thành phố Lạng Sơn cần thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn chuyên sâu về kỹ năng đàm phán và xử lý xung đột. Thẩm phán phải chủ động đổi mới phương pháp tiếp cận theo hướng linh hoạt, lắng nghe và thấu hiểu. Công tác thu thập và công khai chứng cứ trước phiên hòa giải phải được thực hiện minh bạch. Điều này giúp các đương sự đánh giá chính xác vị thế pháp lý của bản thân. Đồng thời, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và tuyên truyền pháp luật cộng đồng sẽ tạo nền tảng thuận lợi cho hòa giải.

3.1. Hoàn thiện quy định pháp luật và ban hành văn bản hướng dẫn

TAND Tối cao cần sớm ban hành nghị quyết hướng dẫn thi hành các quy định về hòa giải trong BLTTDS 2015. Cần làm rõ tiêu chí xác định quyền và nghĩa vụ của đương sự vắng mặt trong phiên hòa giải. Quy định về thủ tục xử lý khi đương sự thay đổi nội dung thỏa thuận trong thời hạn 7 ngày cần được chuẩn hóa. Việc phân định rõ giữa thủ tục hòa giải theo BLTTDS và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án cũng là vấn đề cần ưu tiên. Những bổ sung này sẽ tạo hành lang pháp lý vững chắc, giúp Thẩm phán tự tin giải quyết tranh chấp đúng luật.

3.2. Bồi dưỡng kỹ năng hòa giải chuyên sâu cho Thẩm phán cơ sở

Nâng cao năng lực cho đội ngũ Thẩm phán là giải pháp mang tính đột phá tại TAND thành phố Lạng Sơn. Đơn vị cần chú trọng đào tạo kỹ năng tâm lý học tư pháp và nghệ thuật giao tiếp thuyết phục. Thẩm phán cần nắm vững tập quán, văn hóa địa phương để đưa ra giải pháp hòa giải thấu tình đạt lý. Việc xây dựng môi trường hòa giải thân thiện, bình đẳng giúp đương sự dễ dàng cởi bỏ định kiến. Ngoài ra, việc tổng kết thực tiễn và chia sẻ kinh nghiệm hòa giải thành công giữa các Thẩm phán cần được duy trì định kỳ nhằm nhân rộng mô hình hiệu quả.

IV. Giá trị ứng dụng luận văn hòa giải vụ án dân sự tại TAND Lạng Sơn

Đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật kinh tế về thực tiễn hòa giải vụ án dân sự tại TAND thành phố Lạng Sơn sở hữu giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Về mặt học thuật, công trình hệ thống hóa các vấn đề pháp lý then chốt về chế định hòa giải theo BLTTDS năm 2015. Đề tài làm sáng tỏ mối quan hệ giữa quy định pháp luật và thực tiễn xét xử tại địa bàn miền núi, biên giới. Kết quả nghiên cứu cung cấp nguồn tư liệu phong phú cho hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học pháp lý. Về mặt thực tiễn, các đề xuất giải pháp trong luận văn có khả năng ứng dụng trực tiếp vào công tác chuyên môn tại TAND thành phố Lạng Sơn. Đề tài đưa ra khuyến nghị xác đáng giúp Thẩm phán hoàn thiện kỹ năng hòa giải và phòng ngừa sai sót tố tụng. Đồng thời, nghiên cứu đóng góp cơ sở thực chứng hữu ích để các cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung chính sách pháp luật dân sự. Việc thực hiện hiệu quả chế định hòa giải sẽ thúc đẩy môi trường kinh doanh ổn định và phát triển bền vững.

4.1. Đóng góp lý luận cho chuyên ngành luật kinh tế

Luận văn bổ sung nguồn dữ liệu học thuật phong phú về cơ chế giải quyết tranh chấp dân sự và thương mại. Nghiên cứu phân tích sâu sắc các khía cạnh pháp lý đặc thù tại địa bàn kinh tế cửa khẩu Lạng Sơn. Các đánh giá so sánh giữa BLTTDS 2015 và thực tiễn áp dụng giúp làm rõ tính tương thích của pháp luật hiện hành. Đây là tài liệu tham khảo giá trị cho học viên cao học, giảng viên và các nhà nghiên cứu luật học. Đề tài mở ra các hướng tiếp cận mới trong việc hoàn thiện chế định hòa giải tố tụng tại Việt Nam.

4.2. Khả năng ứng dụng thực tế trong công tác xét xử tại địa phương

Các giải pháp trong đề tài hỗ trợ trực tiếp cho Thẩm phán và Thư ký Tòa án tại Lạng Sơn. Việc áp dụng đúng quy trình hòa giải giúp hạn chế các khiếu nại, khiếu kiện phức tạp kéo dài. Tài liệu cung cấp cẩm nang thực hành hữu ích để nâng cao tỷ lệ hòa giải thành công tại cơ sở. Đồng thời, kết quả nghiên cứu hỗ trợ chính quyền địa phương xây dựng chiến lược tuyên truyền pháp luật hiệu quả hơn. Người dân được nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật và tinh thần thương lượng văn minh trong giải quyết tranh chấp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths luật kt thực tiễn hòa giải các vụ án dân sự tại tòa án nhân dân thành phố lạng sơn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN 1. Khái niệm và đặc điểm hòa giải vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân 1. Khái niệm hòa giải vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân Theo Từ điển tiếng Việt: "Hòa giải là việc thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột, xích mích một cách ổn thỏa" 1. Khái niệm này đề cập đến hành động và mục đích của hòa giải, nhưng chưa nêu được đầy đủ các yếu tố như bản chất, nội dung và chủ thể của hòa giải.

Trong khoa học pháp lý cũng có nhiều quan điểm khác nhau về hòa giải. Có quan điểm cho rằng: "Hòa giải là quá trình giải quyết những tranh chấp, bất đồng giữa các bên. Trong quá trình hòa giải cần đến bên thứ ba với vai trò trung lập, làm trung gian giúp các bên tranh chấp giải quyết được những bất đồng và đạt được một thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật, đạo đức xã hội và tự nguyện thực hiện những thỏa thuận đó"2. Theo quan điểm này, hòa giải có mục đích giải quyết thành công tranh chấp.

Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp hòa giải đều thành công. Khi đó, dù mâu thuẫn chưa được giải quyết hoàn toàn nhưng các bên tranh chấp cũng có cơ hội hiểu rõ hơn nội dung tranh chấp, bày tỏ ý chí của mình với đối phương và cũng được nghe ý kiến của đối phương về vụ tranh chấp. Từ đó, hai bên có thể phần nào tìm được tiếng nói chung và làm giảm mức độ mâu thuẫn. Cũng có ý kiến cho rằng: "Hòa giải là một chế định quan trọng của luật tố tụng dân sự, là phương pháp giải quyết vụ án bằng chính sự thỏa thuận, thương lượng của các đương sự"3.

Quan điểm này đã nêu được vai trò, ý 1. Từ điển tiếng việt (1998), Nhà xuất bản Đà Nẵng, trang 430. Trần Huy Liệu (1999), Thực trạng tổ chức và hoạt động hòa giải cơ sở, Thông tin khoa học pháp lý, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Hà Nội. Đặng Thanh Hoa - Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh - Một số ý kiến về hoạt động hòa giải VADS ở thủ tục sơ thẩm.

6 nghĩa của chế định hòa giải trong TTDS, nhưng chưa phản ánh được bản chất của hòa giải các VADS. Việc giải quyết vụ án bằng chính sự thỏa thuận của các đương sự có thể được chia thành hai trường hợp: Trường hợp do các đương sự tự hòa giải và trường hợp do các đương sự hòa giải với sự giúp đỡ của Tòa án. Hai trường hợp giải quyết vụ án bằng chính sự thỏa thuận, thương lượng của các đương sự nêu trên có bản chất khác nhau; bởi lẽ, hai trường hợp này dẫn đến hai kết quả giải quyết khác nhau về VADS. Nếu các đương sự tự hòa giải thì Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án, còn trường hợp do Tòa án tiến hành hòa giải giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận đó.

Hòa giải VADS là hoạt động do Tòa án tiến hành giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết VADS. Tuy nhiên, chủ thể của hòa giải lại chính là các đương sự, các đương sự mới là chủ thể có quyền quyết định và thỏa thuận về giải quyết VADS. Mặc dù không phải là chủ thể của hòa giải, song Tòa án có vai trò quan trọng trong việc xác định thời gian, thành phần, địa điểm, nội dung hòa giải, giải thích pháp luật và nội dung tranh chấp để các đương sự đi đến thống nhất về phương án giải quyết vụ án. Để cho hoạt động hòa giải của Tòa án được khách quan, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và sự thỏa thuận của các đương sự phù hợp với pháp luật thì việc hòa giải phải tuân theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.

Hoạt động hòa giải được Tòa án tiến hành trước khi xét xử, giải quyết VADS. Việc hòa giải vào thời điểm nào trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS và tiến hành bao nhiêu lần phụ thuộc vào kinh nghiệm giải quyết VADS của Thẩm phán. Song thông thường, Thẩm phán sẽ tiến hành hòa giải khi chứng cứ, tài liệu của hồ sơ vụ việc đã tương đối đầy đủ, Thẩm phán đã nắm rõ nội dung vụ án, nguyên nhân phát sinh tranh chấp, yêu cầu, tâm tư nguyện vọng của các bên đương sự. Việc hòa giải trước khi xét xử, giải quyết sơ thẩm VADS là bắt buộc, trừ những việc không hòa giải được hoặc pháp luật quy định không được hòa giải hoặc những VADS được giải quyết theo thủ tục rút gọn.

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về hòa giải như sau: 7 Hòa giải VADS là hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự thỏa thuận với nhau để giải quyết VADS theo trình tự, thủ tục mà pháp luật TTDS quy định. Đặc điểm hòa giải vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân - Hòa giải VADS là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự Mặc dù hòa giải là một hoạt động do Tòa án tiến hành nhưng về bản chất hòa giải vẫn là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự. Chỉ có các đương sự mới có quyền hòa giải với nhau về tất cả những vấn đề đang cần giải quyết trong vụ án, bởi đương sự là những người có quyền lợi đang bị xâm hại hoặc tranh chấp. Họ là người hiểu rõ hơn ai hết mâu thuẫn của chính họ.

Khi tham gia vào quá trình hòa giải, các đương sự có quyền thương lượng, thỏa thuận với nhau để giải quyết những bất đồng về quyền lợi của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện ý chí, thỏa thuận. Mọi sự tác động từ bên ngoài trái với ý muốn của các đương sự đều bị coi là trái pháp luật và không được công nhận. Không ai, bằng bất kỳ hình thức nào có thể cưỡng ép, bắt buộc đương sự thỏa thuận với nhau giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp giữa họ. Khi người đại diện của đương sự tham gia tố tụng thì họ có quyền thỏa thuận với đương sự phía bên kia về giải quyết VADS trong phạm vi đại diện.

Trong trường hợp người đại diện theo pháp luật của đương sự tham gia tố tụng thì người đại diện của đương sự có toàn bộ các quyền và nghĩa vụ của đương sự nên người đại diện theo pháp luật của đương sự có quyền tham gia hòa giải. Song đối với vụ án ly hôn mà một trong hai bên vợ chồng là người không có khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi của mình thì người đại diện theo pháp luật không có quyền hòa giải, bởi quan hệ nhân thân phải do các đương sự tự quyết định. Trong trường hợp người đại diện theo ủy quyền của đương sự tham gia tố tụng thì người đại diện của đương sự có các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong phạm vi ủy quyền nên người đại diện theo ủy quyền của đương sự có quyền tham gia hòa giải nếu được đương sự ủy quyền. Đối với những vụ án do cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền và 8 lợi ích hợp pháp của người khác, cơ quan, tổ chức không phải là chủ thể của quan hệ pháp luật tranh chấp nên không có quyền hòa giải với bị đơn.

- Tòa án là chủ thể tiến hành hòa giải, giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết VADS Hòa giải về bản chất là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự nhưng Tòa án là chủ thể trung gian, chủ thể thứ ba không thể thiếu trong quá trình hòa giải đó. Tòa án tham gia vào quá trình hòa giải với vai trò là người tổ chức, giải thích pháp luật và điều hành việc hòa giải giữa các đương sự nhưng không can thiệp vào nội dung thỏa thuận của các bên, kết quả sự thỏa thuận của các đương sự được Nhà nước công nhận, đảm bảo bằng pháp luật. Đặc điểm này giúp phân biệt việc hòa giải VADS do Tòa án tiến hành với tự thỏa thuận của các đương sự sau khi khởi kiện VADS. Đó là, hòa giải do Tòa án tiến hành thì Tòa án sẽ giúp đỡ các đương sự đạt được thỏa thuận, hay nói cách khác sự thỏa thuận của các đương sự là đối tượng mà Tòa án cần giải quyết.

Còn việc tự thỏa thuận của các đương sự sau khi khởi kiện VADS sẽ không có sự tham gia giúp đỡ của Tòa án mà các bên hoàn toàn tự thỏa thuận để đi đến thống nhất ý chí giải quyết VADS và yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận đó. - Hòa giải là hoạt động bắt buộc của Tòa án được tiến hành đối với hầu hết các VADS Thông thường lợi ích của các bên được xem như là động lực để các bên tham gia quan hệ pháp luật dân sự và cũng chính là tiền đề dẫn đến tranh chấp dân sự. Khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Tòa án công nhận quyền dân sự của mình; buộc chấm dứt hành vi vi phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; buộc bồi thường thiệt hại. Mục đích của việc giải quyết tranh chấp, yêu cầu về dân sự là giải quyết các mâu thuẫn về quyền và lợi ích của các bên, các vướng mắc trong tâm tư, tình cảm của các bên.

Việc các đương sự tự thương lượng giải quyết hay cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Tòa 9 án ra quyết định, bản án về giải quyết tranh chấp của đương sự cũng chỉ là các hình thức pháp lý để giải quyết VADS. Xét cả về kinh tế và xã hội thì phương thức giải quyết mà đạt được sự đồng thuận của các bên là phương thức hiệu quả nhất. Do đó, ngay cả khi các đương sự đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết VADS thì việc hòa giải của Tòa án là cần thiết. Để giải quyết tranh chấp dân sự có nhiều phương thức khác nhau như tự thương lượng, yêu cầu cơ quan chủ quản giải quyết, trung gian hòa giải, Trọng tài, Tòa án.

Song, cho dù giải quyết bằng phương thức nào các đương sự đều có quyền thỏa thuận với nhau để giải quyết quan hệ pháp luật tranh chấp, bởi họ chính là chủ thể của các quan hệ pháp luật nội dung.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ