Luận văn thạc sĩ vnu ls pháp luật về kiểm soát giao dịch tư lợi trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại ở việt nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vnu ls pháp luật về kiểm soát giao dịch tư lợi trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

134
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ GIAO DỊCH TƯ LỢI VÀ KIỂM SOÁT GIAO DỊCH TƯ LỢI TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. GIAO DỊCH TƯ LỢI

1.1.1. Khái niệm giao dịch tư lợi

1.1.2. Đặc điểm của giao dịch tư lợi

1.1.3. Một số học thuyết ảnh hưởng tới nguồn gốc phát sinh giao dịch tư lợi

1.1.4. Ảnh hưởng của giao dịch tư lợi trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại

1.2. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KIỂM SOÁT GIAO DỊCH TƯ LỢI TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.2.1. Khái niệm kiểm soát giao dịch tư lợi

1.2.2. Mục đích và ý nghĩa của việc kiểm soát giao dịch tư lợi trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại

1.2.3. Cách thức kiểm soát các giao dịch tư lợi trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại

1.3. PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT GIAO DỊCH TƯ LỢI TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.3.1. Khái niệm pháp luật về kiểm soát giao dịch tư lợi

1.3.2. Đặc điểm của pháp luật về kiểm soát giao dịch tư lợi trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

1.3.3. Nội dung của pháp luật về kiểm soát giao dịch tư lợi trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại

1.3.4. Pháp luật một số nước trên thế giới

1.4. Tóm tắt chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT GIAO DỊCH TƯ LỢI TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

2.1. QUY ĐỊNH VỀ NGHĨA VỤ VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NHỮNG CHỦ THỂ ĐẶC BIỆT TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.2. QUY ĐỊNH VỀ CÁC GIAO DỊCH CÓ NGUY CƠ NẢY SINH TƯ LỢI BỊ CẤM TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.3. QUY ĐỊNH VỀ CÁC GIAO DỊCH CÓ NGUY CƠ PHÁT SINH TƯ LỢI BỊ HẠN CHẾ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.4. QUY TRÌNH KIỂM SOÁT CÁC GIAO DỊCH CÓ NGUY CƠ PHÁT SINH TƯ LỢI TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.4.1. Quy định về trách nhiệm công khai các lợi ích liên quan

2.4.2. Quy định về thẩm quyền, thủ tục thông qua các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi giữa ngân hàng và người quản lý, điều hành hoặc người có liên quan của họ

2.4.3. Quy định về công khai các giao dịch giữa ngân hàng với thành viên ngân hàng hoặc với người có liên quan của thành viên

2.5. QUY ĐỊNH VỀ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM AN TOÀN VÀ CHẾ TÀI XỬ LÝ CÁC GIAO DỊCH TƯ LỢI PHÁT SINH TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.5.1. Các biện pháp bảo đảm an toàn cho hoạt động của ngân hàng thương mại

2.5.2. Các chế tài xử lý giao dịch tư lợi phát sinh trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại

2.6. NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ KIỂM SOÁT GIAO DỊCH TƯ LỢI TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.6.1. Những ưu điểm của pháp luật trong việc kiểm soát giao dịch tư lợi trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại

2.6.2. Những hạn chế của pháp luật trong việc kiểm soát giao dịch tư lợi trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại

2.7. Tóm tắt chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ KIỂM SOÁT GIAO DỊCH TƯ LỢI TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

3.1. YÊU CẦU CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ KIỂM SOÁT GIAO DỊCH TƯ LỢI TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

3.1.1. Xu hướng hoàn thiện pháp luật về kiểm soát giao dịch tư lợi trong các ngân hàng trên thế giới

3.1.2. Yêu cầu về nâng cao nội lực ngân hàng

3.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ KIỂM SOÁT GIAO DỊCH TƯ LỢI TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

3.2.1. Về mặt thuật ngữ

3.2.2. Về các quy định liên quan tới nghĩa vụ và trách nhiệm của những chủ thể đặc biệt trong ngân hàng thương mại

3.2.3. Về các quy định liên quan tới các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi bị cấm và bị hạn chế

3.2.4. Về các quy định liên quan tới quy trình kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi

3.2.5. Về các biện pháp bảo đảm an toàn cho hoạt động của ngân hàng thương mại

3.2.6. Về các chế tài xử lý giao dịch tư lợi

3.3. Tóm tắt chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Kiểm Soát Giao Dịch Tư Lợi Trong Ngân Hàng Thương Mại

Kiểm soát giao dịch tư lợi trong ngân hàng thương mại là một vấn đề quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Giao dịch tư lợi không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của ngân hàng mà còn tác động đến toàn bộ nền kinh tế. Việc kiểm soát hiệu quả các giao dịch này giúp giảm thiểu rủi ro và nâng cao uy tín của ngân hàng. Đặc biệt, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, việc kiểm soát giao dịch tư lợi càng trở nên cấp thiết.

1.1. Khái Niệm Giao Dịch Tư Lợi Trong Ngân Hàng

Giao dịch tư lợi là những giao dịch mà cá nhân hoặc nhóm người trong ngân hàng thực hiện nhằm thu lợi cho bản thân, gây ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích chung. Những giao dịch này thường không được công khai và có thể dẫn đến xung đột lợi ích.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Kiểm Soát Giao Dịch Tư Lợi

Kiểm soát giao dịch tư lợi giúp bảo vệ lợi ích của ngân hàng và khách hàng, đồng thời duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính. Việc này cũng góp phần nâng cao lòng tin của công chúng vào các ngân hàng thương mại.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Kiểm Soát Giao Dịch Tư Lợi

Mặc dù đã có nhiều quy định pháp luật về kiểm soát giao dịch tư lợi, nhưng thực tế vẫn tồn tại nhiều thách thức. Các ngân hàng thường gặp khó khăn trong việc phát hiện và xử lý các giao dịch tư lợi do tính chất phức tạp và tinh vi của chúng. Hơn nữa, sự thiếu minh bạch trong các giao dịch cũng là một vấn đề lớn.

2.1. Những Thách Thức Trong Việc Phát Hiện Giao Dịch Tư Lợi

Việc phát hiện giao dịch tư lợi gặp khó khăn do các hành vi này thường được thực hiện một cách tinh vi và không dễ nhận biết. Các ngân hàng cần có hệ thống giám sát hiệu quả để phát hiện kịp thời.

2.2. Tác Động Của Giao Dịch Tư Lợi Đến Ngân Hàng

Giao dịch tư lợi có thể dẫn đến tình trạng nợ xấu gia tăng, làm giảm khả năng thanh khoản của ngân hàng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến ngân hàng mà còn tác động tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế.

III. Phương Pháp Kiểm Soát Giao Dịch Tư Lợi Hiệu Quả

Để kiểm soát giao dịch tư lợi hiệu quả, các ngân hàng cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Việc xây dựng quy trình kiểm soát chặt chẽ và minh bạch là rất cần thiết. Ngoài ra, đào tạo nhân viên về nhận thức và trách nhiệm cũng đóng vai trò quan trọng.

3.1. Xây Dựng Quy Trình Kiểm Soát Chặt Chẽ

Quy trình kiểm soát cần được thiết lập rõ ràng, bao gồm các bước từ phát hiện đến xử lý giao dịch tư lợi. Điều này giúp đảm bảo rằng mọi giao dịch đều được giám sát và đánh giá đúng mức.

3.2. Đào Tạo Nhân Viên Về Nhận Thức Rủi Ro

Đào tạo nhân viên về các rủi ro liên quan đến giao dịch tư lợi giúp nâng cao nhận thức và khả năng phát hiện các hành vi không đúng mực. Nhân viên cần hiểu rõ về các quy định và chính sách của ngân hàng.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu

Việc áp dụng các biện pháp kiểm soát giao dịch tư lợi đã mang lại nhiều kết quả tích cực cho các ngân hàng thương mại. Nhiều ngân hàng đã giảm thiểu được tình trạng nợ xấu và nâng cao được uy tín của mình trong mắt khách hàng.

4.1. Kết Quả Từ Các Ngân Hàng Thương Mại

Nhiều ngân hàng đã áp dụng thành công các biện pháp kiểm soát giao dịch tư lợi, từ đó giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động. Các ngân hàng này đã có những bước tiến đáng kể trong việc cải thiện tình hình tài chính.

4.2. Bài Học Kinh Nghiệm Từ Các Nước Khác

Các nước có hệ thống ngân hàng phát triển đã có nhiều kinh nghiệm trong việc kiểm soát giao dịch tư lợi. Việc học hỏi từ các mô hình này có thể giúp Việt Nam cải thiện quy định và thực tiễn trong lĩnh vực này.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Kiểm Soát Giao Dịch Tư Lợi

Kiểm soát giao dịch tư lợi trong ngân hàng thương mại là một vấn đề cần thiết và cấp bách. Việc hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao nhận thức của nhân viên sẽ giúp giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Tương lai của kiểm soát giao dịch tư lợi phụ thuộc vào sự đồng bộ và quyết tâm của các cơ quan chức năng.

5.1. Định Hướng Phát Triển Trong Tương Lai

Các ngân hàng cần tiếp tục cải thiện quy trình kiểm soát giao dịch tư lợi, đồng thời tăng cường hợp tác với các cơ quan chức năng để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả.

5.2. Vai Trò Của Công Nghệ Trong Kiểm Soát

Công nghệ có thể đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện và ngăn chặn giao dịch tư lợi. Việc áp dụng các hệ thống công nghệ thông tin hiện đại sẽ giúp ngân hàng nâng cao khả năng giám sát và kiểm soát.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls pháp luật về kiểm soát giao dịch tư lợi trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ GIAO DỊCH TƯ LỢI VÀ KIỂM SOÁT GIAO DỊCH TƯ LỢI TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. GIAO DỊCH TƯ LỢI 1. Khái niệm giao dịch tư lợi Trong đời sống xã hội, “tư lợi” không phải là thuật ngữ mới mẻ. Nó xuất hiện từ khá lâu, gắn liền với hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của con người.

Vì thế, “tư lợi” thường được gắn với hành vi của con người, là hoạt động có chủ đích của con người. “Tư lợi” là thuật ngữ Hán Việt trong đó “tư” được hiểu là những việc, vật. thuộc về cá nhân, của riêng cá nhân. “Tư” thường được sử dụng trong so sánh với “công” để thấy được đầy đủ nội hàm của thuật ngữ này.

Nếu “công” diễn tả việc, vật, lợi ích.chung, thuộc về nhiều người thì “tư” lại hàm ý nhấn mạnh đến cái riêng, của từng cá nhân. Trong khi đó, “lợi” được hiểu là những cái có ích mà con người thu được, còn gọi là lợi ích nên “tư lợi” theo nghĩa chiết tự có nghĩa là lợi ích cá nhân. Lợi ích cá nhân về cơ bản không có gì xấu. Nó chi phối hoạt động của con người, quyết định mục tiêu, cách thức, phương hướng các hoạt động đó.

Ở góc độ tích cực, lợi ích cá nhân là động lực cho hoạt động của con người bởi xét cho cùng, con người tiến hành hoạt động nhằm thỏa mãn tốt hơn các nhu cầu cá nhân của họ. Tuy nhiên, là một thực thể xã hội, con người không chỉ hoạt động vì lợi ích của riêng mình mà còn vì lợi ích chung của toàn xã hội hay ở phạm vi nhỏ hẹp hơn là lợi ích của tổ chức, cơ quan họ làm việc, cộng đồng họ sinh sống. Lợi ích cá nhân khi được chú trọng quá mức có thể ảnh hưởng tới lợi ích chung. Lúc này, “tư lợi” được hiểu theo nghĩa tiêu cực.

Đó là hành vi của một người hoặc một nhóm người vì mong muốn đạt được những lợi ích riêng nhất định mà xâm phạm tới lợi ích chung. Hành vi “tư 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lợi” theo nghĩa này có biểu hiện rất đa dạng và thường không được khuyến khích thực hiện, đặc biệt trong các tổ chức kinh tế. Ở mức độ phổ biến, hành vi tư lợi là hành vi của một cá nhân nhằm thỏa mãn các mục đích cá nhân. Thực tiễn hoạt động của các ngân hàng hiện nay cho thấy, không hiếm trường hợp người quản lý sử dụng cơ hội kinh doanh của ngân hàng như một phương tiện để mưu cầu lợi ích cá nhân.

Chẳng hạn như ký kết hợp đồng cho vay giữa ngân hàng và người thân của người quản lý với nhiều điều khoản ưu đãi hơn so với khách hàng thông thường trong khi người này không có đủ nguồn vốn để trả nợ. Ở ví dụ này, nếu không có sự tham gia của hành vi tư lợi, ngân hàng có thể từ chối cấp tín dụng với lý do giao dịch này sẽ khiến ngân hàng gặp rủi ro không thu hồi được nợ và tìm đến khách hàng vay có tiềm năng hơn. Tuy nhiên, cơ hội kinh doanh của ngân hàng đã bị những người quản lý lợi dụng để mưu tính thu lợi riêng. Về hình thức, giao dịch được thực hiện vì lợi ích ngân hàng.

Nhưng về bản chất, nó đang phục vụ cho người quản lý và người thân của họ. Ở mức độ cao hơn và tinh vi hơn, giao dịch tư lợi còn được tạo ra bởi hành vi của nhóm cổ đông/thành viên góp vốn trong ngân hàng thương mại mà hiện nay, báo chí cũng như nhiều nhà nghiên cứu gọi là “lợi ích nhóm” hay “nhóm lợi ích”. “Lợi ích nhóm” được nảy sinh từ một tập thể gồm nhiều cá nhân, tổ chức cùng chia sẻ một mối quan tâm chung và cùng nhau thúc đẩy các mục tiêu đó bằng cách tác động vào các chính sách của ngân hàng. Có thể xem đây là sự phát triển cao hơn của hành vi tư lợi.

Tính chất tinh vi hơn thể hiện ở chỗ không khó để nhận ra hành vi tư lợi của cá nhân nhưng rất khó để nhận ra hành vi tư lợi của “nhóm lợi ích” bởi hai lý do. Thứ nhất, nhóm lợi ích này được hình thành ngầm chứ không công khai. Thứ hai, các giao dịch vì lợi ích nhóm không do nhóm trực tiếp thực hiện mà do chính người quản lý, nhân viên ngân hàng- những người được giao thực thi các chính sách của ngân hàng- tiến hành. Nói cách khác, những người này chỉ là 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “con rối” được “giật dây” bởi “nhóm lợi ích”.

Khi cần quy kết trách nhiệm, không ai khác, những “con rối” này sẽ trở thành vật thế thân. Thông thường, để có thể thúc đẩy “lợi ích nhóm”, nhóm cổ đông/thành viên góp vốn phải nắm giữ một số lượng cổ phần/vốn góp đủ lớn để chi phối việc ban hành các quyết sách của ngân hàng, phục vụ cho những lợi ích ngầm mà mình đang theo đuổi. Vì những lý do này, các giao dịch tư lợi bị hạn chế, thậm chí là ngăn cấm. “Giao dịch tư lợi” trong hoạt động ngân hàng, do đó, không phải là một thuật ngữ xa lạ và các giao dịch này cũng sớm chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật.

Ở nước ta, thuật ngữ “giao dịch tư lợi” chưa được ghi nhận trực tiếp tại bất kỳ một văn bản pháp lý nào dù rằng pháp luật trong rất nhiều lĩnh vực, không chỉ riêng ngân hàng đã có những quy định nhằm hạn chế loại giao dịch này phát sinh. Chẳng hạn, Điều 59 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định hợp đồng giữa công ty TNHH hai thành viên trở lên với thành viên công ty phải được Hội đồng thành viên chấp thuận. Mặc dù cả điều luật không xuất hiện thuật ngữ “giao dịch tư lợi” nhưng nội dung của quy định rõ ràng hướng người đọc tới thuật ngữ này. Chính vì chỉ được ghi nhận một cách gián tiếp như vậy, nên hiện nay chưa có một định nghĩa pháp lý chính thức cho “giao dịch tư lợi”.

Khoa học pháp lý các nước hiện nay ghi nhận hai thuật ngữ có nội hàm tương đồng với thuật ngữ “giao dịch tư lợi” ở nước ta. Đó là thuật ngữ “mâu thuẫn về lợi ích” hoặc “xung đột lợi ích” (conflict of interest) và thuật ngữ “giao dịch tự mình” (self-dealing transactions). Theo giải thích của từ điển Black’s Law Dictionary, “mâu thuẫn về lợi ích” được hiểu là: 1. Sự xung đột trên thực tế hoặc có nguy cơ xung đột giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung hoặc trách nhiệm nhận ủy thác.

Sự xung đột trên thực tế hoặc có nguy cơ xung đột giữa lợi ích của hai thân chủ của cùng một luật sư mà luật sư này không đủ tư cách đại diện cho cả hai 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nếu sự đại diện kép này gây ra những ảnh hưởng xấu tới lợi ích của một trong hai thân chủ hoặc các thân chủ không đồng ý. Theo cách định nghĩa này, “mâu thuẫn về lợi ích” được chia thành hai trường hợp cơ bản. Đó là “mâu thuẫn về lợi ích” nói chung và “mâu thuẫn về lợi ích” liên quan đến hành nghề luật. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả không đi sâu nghiên cứu mâu thuẫn lợi ích trong hành nghề luật.

Một cách chung nhất, “mâu thuẫn về lợi ích” có thể được định nghĩa là bất kỳ tình huống nào, trong đó một cá nhân hoặc một tổ chức (thuộc về tư nhân hoặc chính phủ) lợi dụng năng lực nghề nghiệp hoặc chức vụ để đạt được lợi ích cá nhân hoặc lợi ích cho tổ chức của họ. Một mâu thuẫn về lợi ích có thể trở thành một vấn đề pháp lý, chẳng hạn như khi một cá nhân cố gắng và/hoặc thành công trong việc gây ảnh hưởng tới kết quả của một quyết định vì lợi ích cá nhân. Giám đốc hoặc người điều hành một tổ chức phải chịu trách nhiệm pháp lý nếu việc mâu thuẫn về lợi ích vi phạm bổn phận trung thành của người này. [42] Dưới đây là một số dạng phổ biến nhất của “mâu thuẫn về lợi ích”:  Giao dịch tự mình, trong đó một nhân viên quản lý một tổ chức khiến tổ chức đó tham gia vào một giao dịch với nhân viên đó hoặc với một tổ chức khác mà làm lợi cho nhân viên đó.

Nhân viên này ở cả hai bên của giao dịch.  Lợi ích gia đình, trong đó vợ, chồng, con hoặc những người họ hàng thân thuộc khác được thuê mướn hoặc hàng hóa, dịch vụ được mua từ một người họ hàng hoặc công ty của người họ hàng này. Vì lý do này, trong nhiều mẫu tuyển dụng lao động thường có câu hỏi liên quan tới mối quan hệ với lao động hiện tại trong đơn vị tuyển dụng.  Qùa tặng từ những người bạn hợp tác kinh doanh với người nhận quà.

(Món quà kiểu này có thể bao gồm những thứ vô hình có giá trị như chuyên chở hoặc chỗ ở. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com  Pump and dump, trong đó một người môi giới chứng khoán sở hữu một loại chứng khoán đã thổi phồng giá loại chứng khoán đó lên một cách giả tạo bằng cách nâng giá hoặc loan tin đồn, sau đó bán chứng khoán đó ra rồi lại hạ giá chứng khoán hoặc tung tin đồn tiêu cực để đẩy giá xuống. Có thể thấy, mâu thuẫn lợi ích chỉ xảy ra khi một cá nhân hoặc một tổ chức liên quan đến nhiều lợi ích mà việc thỏa mãn một trong số chúng có thể làm lệch lạc động cơ hành động trong những lợi ích còn lại [42]. Do vậy, “mâu thuẫn lợi ích” là nguyên nhân nảy sinh các “giao dịch tư lợi”.

Bên cạnh thuật ngữ “mâu thuẫn lợi ích”, khoa học pháp lý các nước cũng ghi nhận thuật ngữ “giao dịch tự mình” (self-dealing transaction). Giao dịch tự mình là sự tham gia vào một giao dịch để làm lợi cho bản thân thay vì làm lợi cho người ủy thác [39]. Dưới góc độ pháp lý, ngân hàng hay doanh nghiệp là những người ủy thác. Họ ủy thác cho một hoặc một số người thực hiện các hoạt động kinh doanh nhân danh ngân hàng.

Cho nên, theo cách giải thích này, bất cứ hành vi nào của người nhận ủy thác nhân danh ngân hàng để làm lợi cho chính họ được xếp vào “giao dịch tự mình”. Dưới cách tiếp cận này, “giao dịch tự mình” thực chất là “giao dịch tư lợi”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Kiểm Soát Giao Dịch Tư Lợi Trong Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các vấn đề liên quan đến việc kiểm soát các giao dịch tư lợi trong lĩnh vực ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết lập các cơ chế kiểm soát hiệu quả nhằm ngăn chặn các hành vi tham nhũng và bảo vệ lợi ích của khách hàng cũng như của ngân hàng. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc áp dụng các biện pháp kiểm soát này, không chỉ giúp nâng cao tính minh bạch mà còn củng cố niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ vnu ls những giải pháp pháp lý nhằm kiểm soát các giao dịch tư lợi trong hoạt động doanh nghiệp nhà nước ở việt nam, nơi cung cấp các giải pháp pháp lý cụ thể cho việc kiểm soát giao dịch tư lợi trong doanh nghiệp nhà nước. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ vnu ls sáp nhập hợp nhất pháp nhân là ngân hàng thương mại theo pháp luật việt nam hiện nay sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình sáp nhập và hợp nhất trong ngành ngân hàng, một yếu tố quan trọng trong việc cải cách và nâng cao hiệu quả hoạt động. Cuối cùng, tài liệu Luận án tiến sĩ pháp luật về xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu các tổ chức tín dụng ở việt nam sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về giá trị doanh nghiệp trong bối cảnh tái cơ cấu, giúp bạn nắm bắt được các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của các tổ chức tín dụng. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về lĩnh vực ngân hàng thương mại và các vấn đề liên quan.