Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CÁC GIAO DỊCH CÓ NGUY CƠ PHÁT SINH TƯ LỢI TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm và phân loại Doanh nghiệp nhà nước 1. Khái niệm Doanh nghiệp nhà nước “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” (Khoản 1 điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005). Doanh nghiệp nhà nước có lịch sử tồn tại khá lâu đời và hiện đang giữ vai trò chủ đạo trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.
Trong từng giai đoạn khác nhau, quan điểm pháp lý về doanh nghiệp nhà nước cũng có những đặc thù và thay đổi nhất định phù hợp với thực tiễn kinh doanh. Trong thời gian đầu của quá trình đổi mới nền kinh tế ở Việt Nam, doanh nghiệp nhà nước được quan niệm là “những tổ chức kinh doanh do Nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ” (Điều 1 NĐ 388/HĐBT ngày 20 tháng 11 năm 1991). Doanh nghiệp nhà nước còn bao gồm cả những tổ chức kinh tế hoạt động công ích của Nhà nước (Điều 1 Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995). Doanh nghiệp nhà nước theo cách hiểu này đã được tiếp cận điều chỉnh bởi pháp luật có sự khác biệt rõ rệt với các loại hình doanh nghiệp khác về vấn đề chủ sở hữu cũng như tổ chức và quản lý hoạt động của doanh nghiệp.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ những thay đổi về tư duy quản lý kinh tế và điều chỉnh pháp luật đối với các doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 đã có định nghĩa mới về doanh nghiệp nhà nước. Theo Luật này, doanh nghiệp nhà nước được hiểu là “tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn” (Điều 1 Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003). Khái niệm DNNN tiếp tục được sửa đổi, theo quy định mới thì “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ” (Khoản 22 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005). Và cho đến nay, khái niệm DNNN một lần nữa được sửa đổi (được thể hiện trong Luật Doanh nghiệp năm 2014, vừa được Quốc Hội thông qua ngày 26/11/2014, có hiệu lực từ ngày 1/7/2015.
Theo quy định mới, “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ”. Có thể nói, quan điểm mới về DNNN thực chất là quay lại tư tưởng của thời kỳ đầu của đổi mới kinh tế. Hay nói cách khác, khái niệm này giống với khái niệm DNNN được quy định tại Luật DNNN năm 2003. Tuy nhiên, từ các khái niệm DNNN có thể thấy DNNN có những đặc điểm sau: - Là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn và trực tiếp thành lập.
Doanh nghiệp Nhà nước đều do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trực tiếp ký quyết định thành lập khi thấy việc thành lập Doanh nghiệp là cần thiết. Việc thành lập doanh nghiệp Nhà nước dựa trên nguyên tắc chỉ thành lập theo những ngành, lĩnh vực then chốt, xương sống của nền kinh tế dựa trên những đòi hỏi thực tiễn của nền kinh tế thời điểm dó và chủ trương của Đảng và ngành nghề lĩnh vực đó. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Doanh nghiệp Nhà nước do Nhà nước đầu từ vốn nên nó thuộc sở hữu Nhà nước, tài sản của doanh nghiệp Nhà nước là một bộ phận của tài sản Nhà nước. Doanh nghiệp Nhà nước sau khi được thành lập là một chủ thể kinh doanh, tuy nhiên chủ thể kinh doanh này không có quyền sở hữu đối với tài sản trong doanh nghiệp mà chỉ là người quản lý tài sản và kinh doanh trên cơ sở sở hữu của Nhà nước.
Nhà nước giao vốn cho doanh nghiệp, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc bảo toàn và phát triển vốn mà Nhà nước giao. - Doanh nghiệp Nhà nước do Nhà nước tổ chức quản lý và hoạt động theo mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao. Nhà nước quản lý doanh nghiệp Nhà nước thông qua cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền theo phân cấp của Chính phủ. Bao gồm những nội dung sau: Nhà nước quy định mô hình cơ cấu tổ chức quản lý trong từng loại doanh nghiệp Nhà nước phù hợp với quy mô của nó; Những quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn của các cơ cấu tổ chức trong doanh nghiệp Nhà nước như hội đồng quản trị, Tổng giám đốc.; Những quy định thẩm quyền trình tự thủ tục của việc bổ nhiệm miễn nhiệm khen thưởng kỷ luật các chức vụ quan trọng của doanh nghiệp như chủ tịch Hội đồng quản trị.
Hoạt động của doanh nghiệp chịu sự chi phối của nhà nước về mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao. Nếu Nhà nước giao cho doanh nghiệp Nhà nước nào thực hiện hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp Nhà nước đó phải kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp Nhà nước nào được giao thực hiện hoạt động công tích thì doanh nghiệp Nhà nước đó phải thực hiện hoạt động công ích nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Doanh nghiệp Nhà nước là một pháp nhân chịu trách nhiệm hữu hạn về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong phạm vi số vốn Nhà nước giao. Phân loại Doanh nghiệp nhà nước Sau hơn 20 năm triển khai thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (từ năm 1992 đến nay) và thực hiện chuyển đổi mô hình của các doanh nghiệp nhà nước nhằm thúc đẩy DNNN phát triển bền vững, hình thành nên một khung pháp lý chung, bình đẳng, áp dụng thống nhất cho mọi loại hình doanh nghiệp thì đến nay DNNN được tồn tại dưới các hình thức pháp lý: - Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu, là công ty TNHH do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ; - Công ty TNHH hai thành viên trở lên do Nhà nước làm chủ sở hữu, là công ty TNHH trong đó tất cả các thành viên đều là công ty của Nhà nước, do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ; - CTCP nhà nước, là CTCP mà toàn bộ cổ đông đều là cổ đông nhà nước, do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ; - CTCP hoặc công ty TNHH hai thành viên trở lên mà cổ phần hoặc vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ.
Ngoài ra, trong hệ thống các doanh nghiệp nhà nước còn có loại hình doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và dịch vụ công ích nhà nước. Giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong các Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 1. Khái niệm và bản chất các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giao dịch là một giao kèo hay giao thiệp do nhiều đối tác hay đối tượng riêng biệt cùng tiến hành [11]. Các giao dịch này được thể hiện bằng hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương.
Thông qua các hợp đồng công ty thu được những lợi ích về tài sản mà mình nhắm tới, đồng thời cũng phải trả cho các bên đối tác các lợi ích, tài sản nhất định; hay nói cách khác hợp đồng làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Hợp đồng là một loại giao ước có đặc điểm chung là sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí của các chủ thể tham gia giao dịch. Người đại diện của công ty được giao trách nhiệm tạo lập các hợp đồng như vậy để mang lại các quyền và nghĩa vụ cho công ty. Theo lẽ thường người đại diện phải hành động tất cả vì lợi ích của công ty, của các chủ sở của công ty.
Tuy nhiên, cũng vì là người đại diện cho công ty trong kí kết các hợp đồng mà khi người đại diện không có chung lợi ích với công ty hoặc lợi ích của họ tỷ lệ nghịch với lợi ích của công ty thì giao dịch đó dễ bị biến đổi bản chất: người đại diện không thể hiện đúng ý chí của công ty mà sẽ dùng quyền năng của mình làm méo mó đi giao dịch đích thực, biến ý chí của mình thành ý chí của công ty để tìm kiếm lợi nhuận cho bản thân hoặc cho người thứ ba, gây thiệt hại cho công ty, cho các chủ sở hữu công ty. Như vậy, có thể hiểu “Giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong công ty là những giao dịch có nhiều khả năng gây thiệt hại về tài sản cho công ty do người đại diện của công ty nhân danh lợi ích của chủ thể mà mình đại diện tiến hành các giao dịch thu lợi nhuận cho cá nhân, cho nhóm hay người thân của mình”. Sự san sẻ lợi ích của công ty để thu lợi cá nhân có thể thực hiện thông qua nhiều phương cách như gửi giá vào hợp đồng mua bán hàng hóa, vật tư cho công ty với mức giá cao hơn thị trường, hoặc bán hàng của công ty với mức giá thấp hơn thị trường. Giao dịch tư lợi cũng có thể xảy ra trên tất 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cả các lĩnh vực như dân sự, lao động, kinh tế.
nhưng phổ biến nhất có thể xảy ra bao gồm việc thuê mướn chuyên gia, nhân công, đầu tư, đấu thầu, cài giá, từ bỏ quyền đòi nợ, hoặc cho hoãn nợ, giãn nợ. Từ khái niệm trên cho thấy về bản chất kinh tế thì các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi là vấn đề sở hữu, là sự chuyển dịch ngầm sở hữu của pháp nhân cho các cá nhân nắm quyền kinh doanh. Tổng lợi ích kinh tế trong giao dịch không đổi nhưng quyền sở hữu giữa các chủ thế tham gia có sự thay đổi, chuyển hóa. Còn bản chất pháp lý của giao dịch này là hợp đồng được thể hiện dưới hình thức hợp pháp, nhưng thực chất là thể hiện ý chí, mục đích trục lợi của cá nhân người giao kết.
Nghĩa là mang trong nó yếu tố bất hợp pháp dạng ẩn, nếu không được phát hiện, nó vẫn tồn tại công khai, có giá trị bắt buộc thực hiện và được pháp luật bảo vệ.