Chương 1: Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp ở Việt Nam. Chương 3: Định hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp ở Việt Nam. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TÀI SẢN TRÍ TUỆ TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Khái luận và bản chất của tài sản trí tuệ 1. Khái niệm tài sản trí tuệ Trong xu thế xã hội ngày càng được công nghiệp hóa – hiện đại hóa, xu hướng hội nhập ngày càng được mở rộng hơn, nền kinh tế tri thức đang dần đóng vai trò quan trọng và chủ lực của xã hội. Không một ai có thể phủ nhận những giá trị đến từ thành quả của hoạt động lao động trí tuệ trong sự phát triển của kinh tế xã hội. Một sản phẩm được tạo ra sau một quá trình nghiên cứu tìm tòi với một mục đích nhất định sẽ luôn đạt được hiệu quả không ngờ.
Trong bất kỳ doanh nghiệp nào, nhu cầu đòi hỏi khả năng sáng tạo và đổi mới là điều luôn được đánh giá cao. Chủ doanh nghiệp luôn mong muốn có được những người lao động không chỉ làm được việc, đáp ứng những yêu cầu đề ra mà còn phải biết phát triển khả năng của mình. Một doanh nghiệp muốn phát triển thì cần phải có những người lao động làm việc bằng khả năng tư duy sáng tạo của mình, đóng góp nên sự thành công của doanh nghiệp. Những khó khăn gặp phải là điều không thể tránh khỏi đối với bất kỳ ai, bất kỳ doanh nghiệp nào.
Để giải quyết và cùng vượt qua được những khó khăn đó thì đòi hỏi những người lao động ở những vị trí chuyên môn phải biết suy nghĩ, tìm ra các cách thức, biện pháp mới giải quyết phù hợp (đôi khi nó chính là những sáng kiến góp phần tạo nên giá trị không nhỏ cho doanh nghiệp). Do đó, yêu cầu đòi hỏi khả năng sáng tạo và đổi mới tư duy luôn là điều cần thiết và chú trọng trong việc phát triển doanh nghiệp. Khi nhìn vào một doanh nghiệp, để đánh giá một doanh nghiệp là uy tín, khẳng định giá trị thực sự của doanh nghiệp đó, đôi khi người ta sẽ không 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dựa trên tổng giá trị tài sản vật chất mà doanh nghiệp đó đang hiện có (sở hữu) như công ty có bao nhiêu trang thiết bị, máy móc, văn phòng được trang hoàng đẹp đẽ ra sao mà là những yếu tố mang đặc tính hình tượng, nét riêng biệt của công ty với bên ngoài. Danh tiếng của công ty trên thị trường như thế nào? điều này thể hiện qua chất lượng sản phẩm/dịch vụ mà công ty mang lại cho người tiêu dùng, niềm tin của họ đối với hàng hóa/dịch vụ của công ty (uy tín, danh tiếng); Phương thức kinh doanh tạo nên sự khác biệt với các đối thủ cạnh tranh và đem lại hiệu quả trong quá trình tiêu thụ sản phẩm mà chỉ những người nghiên cứu, phát triển của Công ty mới nắm được (bí mật kinh doanh); Một sản phẩm với cái tên dễ nhớ, thu hút, tạo ấn tượng với người tiêu dùng giúp cho việc tiêu thụ sản phẩm ngày một tăng lên (nhãn hiệu hàng hóa); Hay thậm chí là một thiết kế mới cho bao bì sản phẩm mới tung ra thị trường không chỉ đẹp, bắt mắt mà còn tiện ích, dễ dàng sử dụng cũng tạo nên ấn tượng không nhỏ (kiểu dáng công nghiệp).
Có thể thấy, để tạo ra được những dấu ấn riêng biệt làm nên sự phát triển của một doanh nghiệp, mặc dù không tồn tại dưới một hình thức vật chất nhất định nhưng các yếu tố nêu trên đã tạo nên giá trị không nhỏ cho doanh nghiệp và trở thành một phần tài sản riêng thuộc về doanh nghiệp. Thuật ngữ “Tài sản trí tuệ” không còn là điều mới mẻ với nhiều người. Tuy nhiên, để có được một định nghĩa chính thức là gì thì cho đến nay vẫn chưa có một văn bản pháp luật quy định cụ thể. Trước khi đưa ra một khái niệm để hiểu được thế nào là “Tài sản trí tuệ”, cần xác định “tài sản trí tuệ” là loại tài sản nào trong khối tài sản của doanh nghiệp.
Tài sản trong doanh nghiệp được phân chia thành hai loại chính: tài sản vô hình và tài sản hữu hình. Trong đó, “tài sản hữu hình” là loại tài sản có thể nhìn thấy được, thông thường là máy móc, nhà xưởng, cơ sở hạ tầng; “tài sản vô hình” là loại tài sản bao gồm cả nguồn nhân lực, các bí quyết kỹ thuật, kế 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoạch kinh doanh, các ý tưởng, chiến lược, thương hiệu, kiểu dáng công nghiệp, các kết quả vô hình khác được tạo ra bởi các tài năng sáng tạo và đổi mới của công ty. Tài sản vô hình thường không tồn tại dưới một hình thái vật chất mà tồn tại dưới dạng là quyền tài sản (trong đó có quyền SHTT). Đối với các tài sản hữu hình, người ta hoàn toàn có thể xác định được giá trị của nó dù ở bất kỳ ở thời điểm nào, nhưng đối với tài sản vô hình thì khó có thể xác định giá trị của nó một cách chính xác và phù hợp tùy thuộc vào từng thời điểm.
Theo điều 163 Bộ Luật dân sự 2005 (BLDS), “tài sản bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”. “Quyền tài sản là các quyền trị giá được bằng tiền và có thể giao dịch trong dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ” [33, Điều 181]. Như vậy, quyền sở hữu trí tuệ là một trong các quyền tài sản theo quy định của pháp luật. Khi đã xác định “tài sản trí tuệ” cũng là một loại tài sản, cũng giống như các loại tài sản khác, “tài sản trí tuệ” hoàn toàn có thể được sở hữu, trao đổi hoặc tặng cho, mua bán chuyển nhượng như các loài tài sản thông thường.
Thêm vào đó, nếu một tài sản trí tuệ đáp ứng đủ các điều kiện bảo hộ theo pháp luật quy định thì nó sẽ trở thành đối tượng sở hữu trí tuệ như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, bí mật kinh doanh. Theo nghĩa thông dụng, tài sản trí tuệ được hiểu là tất cả các sản phẩm của hoạt động trí tuệ: các ý tưởng sáng tạo, các tác phẩm văn học và nghệ thuật, các công trình nghiên cứu khoa học, giải pháp hữu ích, sáng chế, phần mềm máy tính, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu. Có thể thấy, tài sản trí tuệ là một dạng của tài sản vô hình. Theo Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO, “Tài sản trí tuệ” (tên tiếng Anh: intellectual assets – IA) là những sáng tạo của trí tuệ bao gồm các sáng chế, các tác phẩm văn học nghệ thuật, các biểu tượng, các tên gọi, các hình ảnh và các thiết kế được sử dụng trong thương mại [52].
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong khi đó pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có một định nghĩa trực tiếp nào về “Thế nào là tài sản trí tuệ?” mà nó chỉ được hiểu một cách gián tiếp thông qua định nghĩa về Quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Tại Luật SHTT: “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của các tổ chức, cá nhận đối với tài sản trí tuệ, bao gồm các quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng” [35, Điều 4, Khoản 1]. Theo đó, tài sản trí tuệ có thể là đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ nếu tài sản đó thỏa mãn các điều kiện theo pháp luật quy định. Tuy nhiên, bên cạnh những đối tượng này thì vẫn còn rất nhiều những đối tượng khác không được pháp luật ghi nhận nhưng cũng có thể là tài sản trí tuệ.
Ví dụ: phương thức kinh doanh, tổ chức sản xuất, cơ sở dữ liệu khách hàng, bản vẽ thiết kế công trình kiến trúc, mỹ thuật, kỹ thuật, bản báo cáo thông tin cơ sở dữ liệu. Tóm lại, “tài sản trí tuệ” có phạm vi rộng hơn “quyền sở hữu trí tuệ”. Tài sản trí tuệ của một doanh nghiệp là bất kỳ các dữ liệu, thông tin hoặc bí quyết, tri thức nào đó mà một doanh nghiệp có thể sở hữu hoặc chiếm hữu một cách hợp pháp, thông qua hoạt động sáng tạo và đổi mới bên trong doanh nghiệp hoặc tiếp nhận chuyển giao từ bên ngoài. Tài sản trí tuệ sẽ là đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ khi đáp ứng được các yêu cầu theo quy định của pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Tài sản trí tuệ không chỉ ghi nhận quyền sở hữu của chủ sở hữu mà còn bảo vệ cả quyền nhân thân của tác giả đã trực tiếp tạo ra chúng như quyền đứng tên tác phẩm đối với các đối tượng thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả. Tài sản trí tuệ còn có thể được chuyển giao quyền sở hữu (hay còn gọi là chuyển nhượng) hoặc chuyển giao quyền sử dụng (hay còn lại là li-xăng). Tài sản trí tuệ được sử dụng càng lâu thì càng tạo nên giá trị không như các tài sản vật chất thông thường khác có thể bị khấu hao trong quá trình sử dụng. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Các đặc điểm của tài sản trí tuệ Tài sản trí tuệ là một loại tài sản đặc biệt, nó không thực sự tồn tại dưới một hình thức vật chất cụ thể. Điều đó cũng chính là lý do vì sao người ta lại phân loại nó là loại tài sản vô hình. Để thấy được đặc điểm nổi bật của tài sản trí tuệ, chúng cần được đặt ra so sánh với một tài sản thông thường để thấy được sự khác biệt cũng như đặc điểm của chúng: Một là, tài sản trí tuệ có tính vô hình Nếu tài sản thông thường là tài sản hữu hình mà ai cũng có thể nhìn thấy được dưới một dạng vật chất cụ thể thì tài sản trí tuệ là một loại tài sản đặc biệt, nó được hình thành từ sự sáng tạo, suy nghĩ của con người mà không được nhìn thấy một cách cụ thể dưới dạng vật chất. Người ta chỉ có thể nhìn thấy tài sản trí tuệ thông qua một hình thức thể hiện nào đó trên vật chất.