Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÌNH PHẠT TIỀN 1. Khái niệm hình phạt tiền, mục đích và ý nghĩa của hình phạt tiền 1. Khái niệm hình phạt tiền Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được luật hình sự quy định và được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội nhằm cải tạo, giáo dục họ, nâng cao thái độ tôn trọng pháp luật của người dân, đồng thời góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm. Trải qua cả chặng đường dài trong công tác lập pháp, đến nay một hệ thống hình phạt cụ thể đã được quy định trong BLHS và được áp dụng đối với người phạm tội phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, trong đó có hình phạt tiền.
Hình phạt tiền có tên gọi tiếng Pháp là “amende”, tiếng Đức là “geldstrafe”, tiếng Anh là “fine” và tiếng Ả rập là “diya” và nó thể hiện trong “Fridensgeld” hoặc “argent de la paix”, nghĩa là số tiền nhất định mà người phạm tội phải nộp cho cộng đồng để thiết lập lại hòa bình thông qua quyết định tư pháp của quan tòa [75, tr. Trong pháp luật hình sự của Việt Nam vẫn chưa có một khái niệm pháp lý chính thức nào về hình phạt tiền, mặc dù hình phạt tiền được ghi nhận khá sớm trong pháp luật hình sự. Hiện nay, khái niệm hình phạt tiền mới chỉ được ghi nhận trong các giáo trình, sách báo pháp lý chuyên ngành. Có thể kể đến một số quan điểm sau: Phạt tiền là một loại hình phạt được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung, khi hình phạt chính là loại hình phạt khác.
Phạt tiền do Tòa án quyết định trong những trường hợp do luật định mà theo đó người bị kết án bị tước một số tiền tùy theo mức độ 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiêm trọng của tội phạm, đồng thời xem xét đến tình hình tài sản của người bị kết án và sự biến động của giá cả [64, tr. Phạt tiền là hình phạt không tước tự do, nhẹ hơn hình phạt cải tạo không giam giữ, buộc người bị kết án phải nộp sung công quỹ nhà nước một khoản tiền nhất định [32, tr. Phạt tiền là hình phạt tước của người phạm tội một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nước [27, tr. Về cơ bản, các quan điểm trên về hình phạt tiền là thống nhất, song các khái niệm này còn dài dòng, chưa thực sự phù hợp với một khái niệm mang tính chất pháp lý.
Thuật ngữ pháp lý “người phạm tội” trong khái niệm “Phạt tiền là hình phạt tước của người phạm tội một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nước” dùng để chỉ đối tượng bị áp dụng hình phạt tiền có phần chưa hợp lý vì chỉ những người bị Tòa án quyết định áp dụng hình phạt tiền mới bị tước một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nước. Do vậy, sẽ là chính xác hơn nếu sử dụng thuật ngữ “người bị kết án” thay cho thuật ngữ “người phạm tội”. Theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành, hình phạt tiền vừa là hình phạt chính, vừa là hình phạt bổ sung. Với vai trò này, hình phạt tiền mang những đặc điểm của hình phạt nói chung đồng thời nó còn có những đặc trưng khác biệt với các hình phạt còn lại trong hệ thống hình phạt.
Có thể chỉ ra những đặc điểm cơ bản của hình phạt tiền bao gồm: Một là, hình phạt tiền là một trong những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước. Là một hình phạt, bản thân phạt tiền đã là một trong những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước. So sánh với phạt tiền được quy định trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế khác của Nhà nước thì phạt tiền với tư cách là một hình phạt được quy định trong BLHS mang tính cưỡng chế nghiêm khắc hơn cả. Với các hình phạt khác trong hệ thống hình phạt, theo thứ tự từ nhẹ đến nặng thì hình phạt tiền với 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tính chất là hình phạt chính được xếp ở vị trí thứ hai, nặng hơn hình phạt cảnh cáo nhưng lại nhẹ hơn hình phạt cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân và tử hình; với tính chất là hình phạt bổ sung, theo thứ tự từ nặng đến nhẹ thì phạt tiền cũng được xếp ở vị trí thứ hai, nhẹ hơn hình phạt trục xuất, nhưng nặng hơn các hình phạt: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, cấm cư trú, quản chế, tước một số quyền công dân và tịch thu tài sản.
Tính nghiêm khắc nhất của hình phạt tiền trong luật hình sự thể hiện ở việc nó tước đi của người phạm tội một khoản tiền nhất định, nghĩa là trực tiếp làm hạn chế về mặt lợi ích vật chất của người phạm tội. Đồng thời người bị kết án phạt tiền còn phải gánh chịu hậu quả là phải mang án tích trong một khoảng thời gian nhất định. Thêm nữa, mức tiền phạt tối thiểu và tối đa trong luật hình sự cũng cao hơn so với quy định trong các biện pháp cưỡng chế khác của Nhà nước. Hai là, hình phạt tiền phải được quy định trong BLHS.
Cũng như các loại hình phạt khác trong luật hình sự, hình phạt tiền phải được quy định trong văn bản luật hình sự, cụ thể hiện nay là BLHS năm 1999. Trong BLHS năm 1999, hình phạt tiền được quy định ở cả Phần chung và Phần các tội phạm. Phần chung quy định điều kiện, nội dung, phạm vi và nguyên tắc áp dụng hình phạt tiền, cách thức thi hành hình phạt tiền. Phần các tội phạm quy định hình phạt tiền với tư cách hình phạt chính hay hình phạt bổ sung với các tội phạm cụ thể.
Ba là, phạt tiền là một loại hình phạt nên phải do Tòa án quyết định đối với chính cá nhân người phạm tội đã thực hiện tội phạm theo một trình tự riêng biệt. Theo quy định của pháp luật thì Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền nhân danh Nhà nước áp dụng hình phạt đối với người phạm tội. Và việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội của Tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt các thủ tục được quy định trong BLTTHS. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bốn là, phạt tiền là buộc người bị kết án phải nộp một khoản tiền nhất định để sung quỹ nhà nước trong những trường hợp do luật định.
Khoản tiền nhất định mà người bị kết án phải nộp là khoản tiền nằm trong giới hạn mức tối thiểu và mức tối đa của điều luật cụ thể quy định. Người phạm tội cũng chỉ bị áp dụng hình phạt tiền khi mà điều luật cụ thể trong Phần các tội phạm của BLHS quy định về tội phạm mà người đó đã thực hiện có quy định hình phạt tiền là hình phạt chính hoặc là hình phạt bổ sung. Trường hợp ngược lại, điều luật không quy định thì Tòa án không được áp dụng hình phạt tiền với người phạm tội. Năm là, khoản tiền bị tước phải tùy thuộc vào tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm, có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, cũng như sự biến động của giá cả thị trường.
Khi xem xét việc áp dụng hình phạt tiền đối với người phạm tội, Tòa án không những phải xem xét và cân nhắc đến các quy định của BLHS, tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm đã thực hiện, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà còn phải xem xét đến tình hình tài sản của người phạm tội và sự biến động của giá cả thị trường. Có như vậy Tòa án mới có thể quyết định mức phạt tiền hợp lý đảm bảo tính khả thi của hình phạt tiền trên thực tế. Sáu là, phạt tiền là loại hình phạt được áp dụng là hình phạt chính, hoặc được áp dụng là hình phạt bổ sung khi hình phạt chính là loại hình phạt khác. Từ những đặc trưng cơ bản của hình phạt tiền cùng với việc tiếp thu quan điểm về hình phạt tiền của các nhà nghiên cứu luật hình sự, chúng ta có thể đưa ra một khái niệm khoa học về hình phạt tiền như sau: “Phạt tiền là hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự Việt Nam tước đi của người bị kết án một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nước”.
Đây là khái niệm ngắn gọn, phản ánh tương đối đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng cũng như nội dung pháp lý của hình phạt tiền. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mục đích của hình phạt tiền Giống như đối với các hình phạt khác trong hệ thống hình phạt, khi áp dụng hình phạt tiền Tòa án cũng nhằm hướng tới những mục đích như trừng trị người phạm tội, đồng thời giáo dục, cải tạo họ và phòng ngừa tội phạm. Hình phạt tiền được luật hình sự quy định với nội dung pháp lý là tước bỏ một phần quyền lợi vật chất của người phạm tội.
Do đó, hình phạt tiền là hình phạt có khả năng tác động trực tiếp và mạnh mẽ về mặt kinh tế đến người phạm tội, nó đặc biệt có hiệu quả trong việc đấu tranh với các loại tội có tính chất vụ lợi, các tội dùng tiền làm phương tiện hoạt động, các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, an toàn công cộng, trật tự quản lý hành chính… mà chưa đến mức áp dụng các hình phạt nghiêm khắc hơn, hạn chế hoặc tước tự do của người bị kết án. Bằng việc tước đi một khoản tiền nhất định của người bị kết án, hình phạt này làm cho họ nhận ra được hành vi sai lầm của mình, nhận ra tính tất yếu của hình phạt đối với tội phạm mà họ đã thực hiện, để từ đó giáo dục và tự giáo dục trở thành người có ích trong xã hội và đạt được mục đích phòng ngừa chung của hình phạt. Mặc dù là một loại hình phạt tác động trực tiếp về kinh tế đối với người phạm tội song hình phạt tiền không chỉ mang bản chất kinh tế thuần túy, bởi lẽ ngoài việc bị tước đi một khoản tiền nhất định người phạm tội còn bị mang án tích trong một thời gian nhất định. Đây chính là đặc điểm cơ bản phân biệt hình phạt tiền với các biện pháp cưỡng chế khác như tịch thu tài sản, tịch thu vật tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm, hay phạt tiền với tư cách là một hình thức xử lý vi phạm hành chính.