Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DẤU HIỆU LỖI CỐ Ý VÀ LỖI VÔ Ý TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm và cơ sở lý luận của lỗi trong luật hình sự Việt Nam Khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự 1999 quy định: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa [11, Điều 8]. Như vậy, một trong những nguyên tắc quan trọng được thể hiện trong khái niệm tội phạm đó là “nguyên tắc có lỗi”. Đây là nguyên tắc cơ bản trong luật hình sự Việt Nam.
Hay nói cách khác, người phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam không phải chỉ đơn thuần vì người này đã có hành vi khách quan gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ mà còn vì đã có lỗi trong việc thực hiện hành vi khách quan đó. Nguyên tắc này cũng khẳng định, luật hình sự Việt Nam không chấp nhận việc “quy tội khách quan”, nghĩa là truy cứu trách nhiệm hình sự con người chỉ dựa trên cơ sở hành vi khách quan mà không xét đến lỗi của họ. Nguyên tắc có lỗi thể hiện chính sách hình sự tiến bộ, đúng đắn, thừa nhận và tôn trọng tự do thực sự của con người, là cơ sở đảm bảo cho vấn đề trách nhiệm hình sự có khả năng khách quan thực hiện được mục đích của 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hình phạt quy định tại Điều 27 Bộ luật hình sự năm 1999: “… không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn nhằm giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới” [11, Điều 27]. Hiện nay, đề cập đến khái niệm lỗi, có nhiều cách diễn đạt khác nhau: Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý [15].
Người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội bị coi là có lỗi nếu hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn của họ trong khi có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn và thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội. Theo đó, lỗi trong luật hình sự, trước hết được hiểu là quan hệ giữa người phạm tội với xã hội mà nội dung của nó là sự phủ định chủ quan những đòi hỏi của xã hội đã được thể hiện qua các đòi hỏi cụ thể của luật hình sự. Sự phủ định chủ quan này tồn tại trên cơ sở và trong sự thống nhất với sự phủ định khách quan là sự gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự. Cũng như quan hệ giữa khách quan và chủ quan, sự phủ định khách quan có thể tồn tại độc lập không cần có sự phủ định chủ quan nhưng sự phủ định chủ quan chỉ tồn tại khi có sự phủ định khách quan [15].
Điều này khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa lỗi – dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm với hành vi khách quan của tội phạm – dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm. Chỉ có thể nói đến hành vi khách quan – hành vi nguy hiểm cho xã hội của tội phạm khi hành vi đó đi liền với lỗi, và ngược lại, không thể nói đến lỗi khi không có hành vi cụ thể nguy hiểm cho xã hội. Hay nói cách khác, lỗi được đề cập với tư cách là dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt chủ quan của tội phạm là lỗi của cá nhân, lỗi của một con người cụ thể khi người đó thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hay: Lỗi hình sự là mặt chủ quan của tội phạm và là một trong những điều kiện bắt buộc của trách nhiệm hình sự, đồng thời là thái độ tâm lý của người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm mà người đó thực hiện và hậu quả do hành vi ấy gây nên dưới hình thức cố ý hoặc vô ý [4, tr.
Lỗi là sự phủ định chủ quan đòi hỏi của xã hội. Chủ thể bị coi là có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nếu họ đã lựa chọn hành vi đó trong khi có đủ điều kiện lựa chọn xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội [7, tr. Như vậy, dù dưới góc độ nào thì lỗi cũng là điều kiện quan trọng để có thể truy cứu trách nhiệm hình sự của một cá nhân về hành vi gây thiệt hại cho xã hội của họ. Tại sao lại như vậy? Trên cơ sở nào mà xã hội có thể buộc con người phải chịu trách nhiệm về hành vi của họ? Bởi vì, con người phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình xuất phát từ thực tế, hành vi của con người có tính tất yếu đồng thời có tính tự do.
Tính tất yếu của hành vi con người thể hiện ờ chỗ hành vi được hình thành không phải một cách ngẫu nhiên, tách rời những điều kiện xã hội mà được hình thành một cách có quy luật, là kết quả của sự tác động giữa những điều kiện xã hội và con người. Tuy vậy, xử sự của con người không phải có tính tất yếu tuyệt đối. Chủ nghĩa Mác – Lênin tuy thừa nhận tính tất yếu, thừa nhận tính quy định trước trong xử sự của con người nhưng dựa trên cơ sở lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên, giữa tự do và tất yếu, giữa quy luật và hoạt động của con người, chủ nghĩa Mác – Lênin cũng không phủ nhận tự do ý chí của con người. Mọi xử sự của con người đều chịu sự chi phối của quy luật khách quan nhưng con người nhờ hoạt động ý thức có khả năng nhận thức được quy luật và lợi dụng quy luật thực hiện mục đích của mình.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đó là tự do của con người. Quan điểm này không những bác bỏ thuyết định mệnh cho rằng quy luật là tuyệt đối, con người chỉ là công cụ của hoàn cảnh mà còn bác bỏ cả thuyết duy ý chí đã dề cao ý chí của con người giữ vai trò quyết định, phủ nhận quy luật và tính tất yếu. Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định xử sự của con người có tính quy định trước nhưng đối với chính xử sự của mình con người vẫn có tự do, quyết định và thực hiện xử sự phù hợp với những quy luật tự nhiên và xã hội đã nhận thức được. Xử sự của con người tuy chịu sự tác động của điều kiện kinh tế, xã hội nhưng không phải là kết quả trực tiếp của riêng điều kiện kinh tế, xã hội vì “mọi sự tác động của một hiện tượng lên một hiện tượng khác đều bị khúc xạ bởi các thuộc tính bên trong của hiện tượng bị tác động”.
Các nguyên nhân bên ngoài tác động đến con người không phải một cách máy móc mà phải thông qua sự suy xét (lí trí) và sự quyết định (ý chí) của họ. Để thỏa mãn bất kỳ nhu cầu nào trong đời sống cũng đều có nhiều biện pháp giải quyết và việc lựa chọn biện pháp nào là kết quả của hoạt động lí trí và ý chí. Chính vì vậy, trong những điều kiện khách quan giống nhau, mỗi người có thể lựa chọn biện pháp xử sự khác nhau. Con người khi đã có quyền lựa chọn là có tự do.
Tự do ý chí là khả năng tâm lý của con người có thể tự mình lựa chọn và thực hiện biện pháp xử sự trong những điều kiện xã hội nhất định. Người đã lựa chọn biện pháp xử sự trái pháp luật khi có thể xử sự phù hợp với đòi hỏi của xã hội thì phải chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của mình. Tự do ý chí là cơ sở để lên án người có hành vi trái pháp luật. Có nghĩa là, tự do là cơ sở của trách nhiệm và trách nhiệm chỉ đặt ra cho con người khi họ có tự do.
Người xử sự trái với lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội trong khi có tự do thì có nghĩa họ là người có lỗi. Do đó, trách nhiệm chỉ đặt ra cho người có lỗi [15, tr. Có thể thấy rằng, luật hình sự với tư cách là một trong những ngành luật cơ bản nhất xuất hiện nay ngay từ thời cổ đại - mặc dù thời kỳ này, chưa được xác định với tính chất là ngành khoa học như hiện nay. Theo đó, triết 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com học đã ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình phát triển của khoa học luật hình sự nói chung và chế định lỗi nói riêng.
Vì vậy, các trường phái tồn tại trong lịch sử triết học cũng đóng vai trò nhất định đối với khoa học luật hình sự hiện đại. Cụ thể: Về mặt thần học trong khoa học luật hình sự Đức ngay từ những năm 70 của thế kỷ XVII, thì người đã thực hiện tội phạm có dự mưu phải chịu trách nhiệm về tội ác của mình (Pufendort). Trong thời kỳ khai sáng, khoảng thế kỷ thứ XVIII, nhà luật học Cesare Beccaria đã nêu quan điểm pháp lý hình sự có liên quan ở một mức độ nhất định đến cơ sở phương pháp luận của lỗi là: 1) Vấn đề trách nhiệm hình sự và hình phạt không thể gắn liền với sự khái niệm lỗi về mặt đạo đức và không thể thước đo duy nhất và đích thực của tội phạm là sự thiệt hại; 2) Hình phạt cần được áp dụng chỉ khi nào có sự cần thiết tuyệt đối chứ không phải là sự chịu trách nhiệm vì lỗi. Theo quan điểm triết học duy tâm – chủ quan của nhà triết học nổi tiếng người Đức Kant I.