Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI NGUY HIỂM CHO XÃ HỘI VỚI TƯ CÁCH LÀ DẤU HIỆU BẮT BUỘC THUỘC MẶT KHÁCH QUAN CỦA TỘI PHẠM 1. Khái niệm, đặc điểm của hành vi vi phạm pháp luật Trong bất kỳ xã hội nào có giai cấp đều xảy ra những mâu thuẫn xã hội sâu sắc, do bất cập giữa nhu cầu của cá nhân trước thực tế khách quan, nên không thể không dẫn đến những hiện tượng xã hội tiêu cực làm phát sinh ra những hành vi vi phạm pháp luật. Thực tế cho thấy có không ít các công trình nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa cơ cấu thực trạng và diễn biến của vi phạm pháp luật với điều kiện kinh tế - xã hội của cuộc sống.Shur, nhà tội phạm học nổi tiếng người Mỹ đã lưu ý rằng trong xã hội của chúng ta (xã hội Mỹ): "Không một người Mỹ biết tư duy nào có thể không để ý đến sự phụ thuộc chặt chẽ giữa sự nghèo khổ, sự chênh lệch về khả năng xã hội, cảm giác cùng quẫn và bất công, một mặt và mặt kia là tình hình tội phạm" [79, tr. Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã chỉ rõ: “Con người vốn là sản phẩm của lịch sử, hành động của họ ít nhiều bị chi phối bởi hoàn cảnh xã hội khách quan.
Trong những trường hợp phạm pháp, có người không hiểu mà làm điều sai trái, có người phạm tội vì tham lam, vì ghen ghét, có người vì hoàn cảnh ốm đau, túng thiếu thúc bách, có người vì nhẹ dạ mà bị mua chuộc, phỉnh phờ. Như vậy, một trong những cơ sở của vi phạm pháp luật là sự mâu thuẫn giữa yêu cầu của pháp luật do Nhà nước (đại diện chính thức cho xã hội) đặt ra đối với lợi ích của người vi phạm, tức là chủ thể của hành vi. Mâu thuẫn đó mang tính chất xã hội, bởi vì cả pháp luật và chủ thể của hành vi đều có tính xã hội. Các hành vi vi phạm pháp luật tuy có thể khác nhau về mức độ vi phạm và mức độ hậu quả do hành vi gây ra, nhưng chúng đều có điểm chung 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhất đó là tính chất xã hội - là những thiệt hại, tổn thất về những mặt khác nhau đối với lợi ích của giai cấp, nhóm xã hội nói riêng và của cả xã hội nói chung.
Xuất phát từ những lợi ích của mình mà Nhà nước đã định ra những quy phạm pháp luật để điều chỉnh các hành vi xử sự của con người chứ không phải để điều chỉnh những suy nghĩ hoặc những đặc tính cá nhân khác của con người nếu như những đặc tính đó chưa biểu hiện thành các hành vi cụ thể của họ. Về vấn đề này, C.Mác đã viết: "Ngoài hành vi của mình ra tôi hoàn toàn không tồn tại đối với pháp luật, hoàn toàn không phải là đối tượng của nó" [11, tr. Khi nghiên cứu về cơ chế của hành vi vi phạm pháp luật, các nhà khoa học đã chỉ ra chuỗi nhân quả tạo ra hành vi đó là: Nhu cầu và lợi ích của cá nhân động cơ sự lựa chọn mục đích và phương tiện đạt được mục đích ấy đánh giá tình huống ra quyết định xử sự. Đồng thời các công trình nghiên cứu cũng đã chứng minh được rằng cơ chế của hành vi bất hợp pháp khác với hành vi hợp pháp ở chỗ trong một hoặc vài công đoạn của chuỗi nhân quả trên đã có sự biến dạng.
Có bốn trường hợp tiêu biểu của sự biến dạng này, có liên hệ với cá nhân người vi phạm pháp luật và với đặc điểm của môi trường xã hội xung quanh, đó là: Trường hợp thứ nhất: Nhu cầu và lợi ích của chủ thể bị méo mó là động cơ chủ yếu thúc đẩy việc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xâm phạm tài sản và xâm hại về nhân thân. Trường hợp thứ hai: Nhu cầu và lợi ích bình thường diễn ra trong sự xung đột với khả năng của chủ thể đối với sự đáp ứng hợp pháp những nhu cầu và lợi ích ấy. Sự mâu thuẫn này trở thành nguyên cớ cho những hành vi thù địch, trong số đó thường gặp là những hành vi côn đồ, gây rối trật tự công cộng và phát sinh ra hàng loạt những hành vi vi phạm pháp luật về tài sản. Trong những trường hợp này, yếu tố lỗi của người bị hại 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cũng tham gia quá trình hình thành hành động sai trái của người phạm pháp.
Trường hợp thứ ba: Sự thoái hóa, biến dạng những định hướng giá trị của chủ thể, tức là việc thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể có thể thực hiện được bằng con đường hợp pháp, nhưng chủ thể vẫn chọn con đường chống đối pháp luật để đạt được mục đích ấy. Cơ chế này là đặc tính cố hữu của hành vi của những người phạm tội nhiều lần hoặc tái phạm. Trường hợp thứ tư: Sự thoái hóa, biến dạng trong giai đoạn ra quyết định. Nguyên nhân ở đây rất khác nhau: hoặc là tình thế căng thẳng, hoặc sai lầm trong việc đánh giá hoàn cảnh, hoặc không tự kiềm chế được mình.
Cơ chế này thường là đặc tính của những hành vi vi phạm - xử sự quá mức pháp luật cho phép hoặc những hành vi vi phạm do cố ý. Như vậy, bản chất xã hội và cơ chế khác nhau của hành vi chống đối pháp luật đã nói lên rằng không phải bất cứ hành vi trái pháp luật nào cũng là hành vi vi phạm pháp luật mà chỉ những hành vi trái pháp luật do chủ thể có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý (có lỗi) mới là hành vi vi phạm pháp luật. Hành vi vi phạm pháp luật có tính chất và nguyên nhân xã hội. Vì bản thân quy phạm pháp luật trước hết là một loại quy phạm xã hội, có nguồn gốc xã hội.
Nguyên nhân chung nhất của các vi phạm pháp luật là mâu thuẫn giữa yêu cầu của pháp luật với lợi ích của người vi phạm. Các hành vi vi phạm pháp luật tuy có thể khác nhau về mức độ vi phạm và mức độ hậu quả gây ra nhưng giữa chúng cũng có điểm chung. Đó là tính chất xã hội của những hậu quả đó. Cho tới nay, có khá nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này đã được tích lũy và phổ biến.
Mặc dù còn nhiều luận điểm chưa được thống nhất nhưng nhìn chung về mặt lý thuyết các nhà nghiên cứu đều tìm thấy những điểm chốt căn bản để ngăn chặn và xử lý trên phạm vi rộng và bao quát các vi phạm pháp luật, từ nguyên nhân xuất hiện đến quá trình phát triển và lây lan 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của nó trong xã hội. Do đó, cần phải xác định và phân định rõ được những chiều hướng tác động lẫn nhau giữa ba khu vực hết sức cơ bản: thứ nhất là cơ sở kinh tế xã hội; thứ hai là hệ thống giá trị và chuẩn mực xã hội; thứ ba là chính những căn bệnh xã hội. Vi phạm pháp luật là sự lệch chuẩn xã hội có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với cơ sở kinh tế - xã hội. Chẳng hạn, chúng ta không thể ngăn chặn được nạn trộm cắp nếu không khắc phục được sự nghèo đói cũng như làm giảm bớt phân cực xã hội phát sinh ra từ cơ chế thị trường khiến cho những nhóm xã hội nhất định có thể bị bần cùng hoá.
Mặt khác, cũng không thể xây dựng và củng cố được những chuẩn mực xã hội tốt đẹp, nếu không được các thành viên trong xã hội chấp nhận và ủng hộ. Vì vậy, về mặt chính trị - xã hội có thể nhận thấy rằng các hành vi vi phạm pháp luật có những đặc tính chung sau đây: 1) Có tính chất xã hội và có cùng xu hướng thể hiện ở những điều kiện kinh tế xã hội cụ thể. 2) Có tính liên kết, hệ thống và tính ổn định tương đối. 3) Nguyên nhân của các hành vi vi phạm pháp luật nằm bên trong các quan hệ xã hội, nhưng lại phủ nhận mặt trái của những mâu thuẫn xã hội.
Do vậy, khi xem xét, đánh giá hành vi vi phạm pháp luật cần đặt chúng trong các mối liên hệ như: sự liên hệ giữa các hành vi vi phạm pháp luật với các hành vi nguy hiểm cho xã hội; sự liên hệ giữa các loại vi phạm pháp luật với nhau; sự liên hệ giữa các hành vi vi phạm pháp luật với các vi phạm những quy tắc xã hội khác như: đạo đức, tôn giáo, thẩm mỹ. Những điều trình bày trên có thể cho phép đi đến kết luận rằng: Hành vi vi phạm pháp luật là hành vi lệch chuẩn xã hội được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động do người có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý trái với các yêu cầu của qui phạm pháp luật, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật xác lập và bảo vệ. Trên cơ sở khái niệm nêu trên, có thể rút ra những dấu hiệu cơ bản sau đây của hành vi vi phạm pháp luật: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dấu hiệu thứ nhất, vi phạm pháp luật trước hết phải là hành vi Vi phạm pháp luật luôn luôn là hành vi (hành động hoặc không hành động) được xác định của con người. Bởi vì chỉ có thông qua hành vi của con người mới có thể gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại cho xã hội.
Những gì trong ý nghĩ, trong tư tưởng của con người nếu chỉ dừng lại ở đó thì chưa thể tác động tới xã hội và để xác định được ý nghĩ hoặc tư tưởng của con người thì cũng phải thông qua cách xử sự bên ngoài, đó chính là hành vi của họ. Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều biểu hiện bằng hành vi cụ thể và cơ sở để quy kết trách nhiệm pháp lý đối với một con người cũng chính là hành vi. Ngay từ thế kỷ XVIII khi luận chứng cho việc chống lại sự truy tố hình sự đối với ý nghĩ, tư tưởng và quan điểm của con người, Môngtexkiơ - Luật gia nổi tiếng người Pháp, một trong những nhà lý luận lớn nhất về Nhà nước pháp quyền giai đoạn đó đã viết: "Các đạo luật nhất thiết chỉ trừng phạt những hành vi bên ngoài" [49, tr. Sang thế kỷ XIX xuất phát từ quan điểm nhân đạo và tiến bộ về bảo vệ các quyền và tự do của con người bằng pháp luật, C.