Luận văn thạc sĩ về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam

Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu vnu ls tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự việt nam trên cơ sở số liệu xét xử địa bàn, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

92
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

1.1. Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam

1.2. Sự cần thiết của việc quy định Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong đấu tranh xử lý, phòng chống tội phạm

1.3. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam

1.4. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam thời kỳ phong kiến

1.5. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam thời kỳ từ 1945 đến trước 1985

1.6. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam thời kỳ từ 1985 đến trước 1999

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM PHÁP LÝ CỦA TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO BỘ LUẬT TỐ HÌNH SỰ 1999

2.1. Khách thể và đối tượng tác động của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

2.2. Khách thể

2.3. Đối tượng tác động của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

2.4. Mặt khách quan của tội phạm

2.5. Dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội

2.6. Hậu quả của tội phạm

2.7. Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm

2.8. Chủ thể của tội phạm

2.9. Mặt chủ quan của tội phạm

2.10. Dấu hiệu lỗi

2.11. Dấu hiệu động cơ, mục đích phạm tội

2.12. Hình phạt và các biện pháp tư pháp

2.13. Các biện pháp tư pháp

2.14. Phân biệt Tội lừa đảo với một số tội phạm khác

2.15. Phân biệt Tội lừa đảo đoạt tài sản với Tội trộm cắp tài sản

2.16. Phân biệt Tội lừa đảo đoạt tài sản với cướp tài sản

2.17. Phân biệt Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với Tội tham ô tài sản

2.18. Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THỰC TIỄN XÉT XỬ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

3.1. Thực trạng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

3.2. Một số Đặc điểm về vị trí địa lý và kinh tế xã hội của Đà Nẵng ảnh hưởng tới tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

3.3. Tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ 2011 đến 2015

3.4. Hoàn thiện pháp luật hình sự

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội phạm phổ biến trong xã hội hiện đại. Theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam, tội này được định nghĩa là hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Tình hình tội phạm này đang gia tăng, đặc biệt tại các thành phố lớn như Đà Nẵng. Việc nghiên cứu và hiểu rõ về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là rất cần thiết để có những biện pháp phòng ngừa và xử lý hiệu quả.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự 1999. Đặc điểm của tội này là hành vi gian dối nhằm khiến nạn nhân nhầm tưởng và tự nguyện giao tài sản cho kẻ phạm tội. Hành vi này không chỉ xâm phạm quyền sở hữu mà còn gây ảnh hưởng đến trật tự xã hội.

1.2. Tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Đà Nẵng

Đà Nẵng là một trong những thành phố có tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản diễn biến phức tạp. Từ năm 2011 đến 2015, số vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã gia tăng đáng kể, với nhiều thủ đoạn tinh vi. Việc nắm bắt tình hình này giúp các cơ quan chức năng có biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

II. Vấn đề và thách thức trong việc xử lý tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Việc xử lý tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản gặp nhiều thách thức do tính chất phức tạp của tội phạm này. Các thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi, khiến cho việc điều tra và truy tố trở nên khó khăn. Hơn nữa, sự thiếu hiểu biết của người dân về pháp luật cũng là một yếu tố làm gia tăng tình trạng này.

2.1. Thách thức trong việc điều tra và truy tố

Các cơ quan chức năng thường gặp khó khăn trong việc thu thập chứng cứ và xác định hành vi phạm tội. Thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi, khiến cho việc điều tra trở nên phức tạp hơn.

2.2. Thiếu hiểu biết pháp luật của người dân

Nhiều người dân chưa hiểu rõ về quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong các giao dịch tài chính, dẫn đến việc dễ dàng trở thành nạn nhân của tội lừa đảo. Việc nâng cao nhận thức pháp luật cho người dân là rất cần thiết.

III. Phương pháp và giải pháp phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Để giảm thiểu tình trạng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cần có những giải pháp đồng bộ từ phía cơ quan chức năng và cộng đồng. Việc nâng cao nhận thức pháp luật, tăng cường công tác tuyên truyền và giáo dục là rất quan trọng.

3.1. Tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật

Các cơ quan chức năng cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền về pháp luật hình sự, đặc biệt là các quy định liên quan đến tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Điều này giúp người dân nhận thức rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình.

3.2. Cải thiện quy trình điều tra và xử lý tội phạm

Cần cải thiện quy trình điều tra, truy tố và xét xử các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Việc đào tạo chuyên sâu cho cán bộ điều tra cũng như tăng cường phối hợp giữa các cơ quan chức năng là rất cần thiết.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Nghiên cứu về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không chỉ giúp hiểu rõ hơn về bản chất của tội phạm mà còn đưa ra những giải pháp thực tiễn để phòng ngừa. Các số liệu thống kê từ các vụ án tại Đà Nẵng cho thấy sự gia tăng của tội phạm này trong những năm gần đây.

4.1. Kết quả nghiên cứu từ số liệu thực tiễn

Các số liệu từ các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Đà Nẵng cho thấy sự gia tăng đáng kể trong giai đoạn từ 2011 đến 2015. Việc phân tích các vụ án này giúp rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu.

4.2. Ứng dụng các giải pháp phòng ngừa

Các giải pháp phòng ngừa đã được áp dụng tại Đà Nẵng cho thấy hiệu quả tích cực trong việc giảm thiểu tình trạng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Việc nâng cao nhận thức cộng đồng và cải thiện quy trình điều tra là những yếu tố quan trọng.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Nghiên cứu về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam, đặc biệt tại Đà Nẵng, là rất cần thiết. Việc hiểu rõ về tội phạm này sẽ giúp các cơ quan chức năng có những biện pháp phòng ngừa và xử lý hiệu quả hơn trong tương lai.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu

Nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao nhận thức về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà còn góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự tại Việt Nam.

5.2. Định hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các thủ đoạn lừa đảo mới và các biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Việc hợp tác quốc tế trong việc phòng chống tội phạm lừa đảo cũng cần được chú trọng.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự việt nam trên cơ sở số liệu xét xử địa bàn thành phố đà nẵng

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề trách nhiệm hình sự của người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được luật hình sự quy định là tội phạm. Ở nước ta, cơ sở của trách nhiệm hình sự được ghi nhận tại Điều 2 Bộ luật hình sự: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Có thể nhận thấy quy định vừa nêu bao hàm hai nội dung: Thứ nhất, chỉ người nào phạm tội mới phải chịu trách nhiệm hình sự; Thứ hai, tội phạm phải được quy định trong Bộ luật hình sự. Từ những phân tích nêu trên có thể khẳng định sự kiện pháp lý duy nhất làm phát sinh trách nhiệm hình sự chỉ có thể là tội phạm.

Tội phạm, hiểu theo ý nghĩa pháp lý hình sự, là hành vi có đủ yếu tố cấu thành tội phạm do luật định. Căn cứ pháp lý của trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế hay bất kỳ tội phạm nào khác chính là cấu thành tội phạm. Cấu thành tội phạm của Tội lừa đảo được qui định trong Bộ luật hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung). Trong lĩnh vực khoa học pháp lý hình sự từ trước đến nay mặc dù vẫn còn có những quan điểm khác nhau về vị trí của các yếu tố cấu thành tội phạm, nhưng có một nội dung mà tất cả đều thống nhất đó là cụ thể hóa cơ sở của trách nhiệm hình sự là việc hành vi đã thực hiện thỏa mãn các dấu hiệu do luật định về tội phạm, được phản ánh trong cấu thành tội phạm các tội phạm cụ thể.

Điều này có nghĩa là phân tích cơ sở của trách nhiệm hình sự đối với các tội lừa đảo thực chất là phân tích các dấu hiệu pháp lý đặc trưng có ý nghĩa định tội. Trách nhiệm hình sự được biểu hiện ra bên ngoài bằng các hình thức cụ thể phản ánh mức độ phải chịu trách nhiệm hình sự của người phạm tội. Hình thức trách nhiệm hình sự (hay hình thức biểu hiện cụ thể của trách nhiệm hình sự, dạng của trách nhiệm hình sự) chính là dạng hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải gánh chịu do việc đã thực hiện tội phạm. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong các hình thức của trách nhiệm hình sự thì phổ biến nhất và nghiêm khắc nhất là hình phạt và kèm theo nó là án tích.

Trong khoa học pháp lý hình sự thì tội phạm luôn gắn liền với hình phạt, hay nói cách khác hình phạt chính là hậu quả pháp lý bất lợi thường thấy của tội phạm. Do vậy, một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm thì việc họ bị đe dọa áp dụng hình phạt với tính chất là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước là điều khó tránh khỏi. Đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế thì hình phạt được quy định ngay trong chế tài của các tội phạm (chương XVI – Bộ luật hình sự năm 1999, đã được sửa đổi, bổ sung). Trên các diễn đàn khoa học pháp lý và trong một số sách báo pháp lý cũng có ý kiến đồng nhất trách nhiệm hình sự với hình phạt - hậu quả bất lợi nhất mà người phạm tội phải gánh chịu do hành vi phạm tội của họ.

Tuy nhiên, theo chúng tôi thì trách nhiệm hình sự và hình phạt tuy có mối quan hệ mật thiết, khăng khít với nhau nhưng lại là hai khái niệm riêng biệt. Trong phần lớn các trường hợp phạm tội, trách nhiệm hình sự được thực hiện thông qua việc áp dụng biện pháp cưỡng chế Nhà nước mang tính nghiêm khắc nhất - đó là hình phạt, bởi hình phạt là hình thức trách nhiệm hình sự mang tính phổ biến nhất mà Nhà nước áp dụng đối với người phạm tội. Hình phạt thực chất là một hình thức biểu hiện cụ thể của hậu quả pháp lý bất lợi đối với người phạm tội. Tuy nhiên, do trách nhiệm hình sự và hình phạt đều gắn liền với tội phạm và chịu hình phạt là hình thức biểu hiện trách nhiệm phổ biến nên không có sự phân định rạch ròi hai khái niệm này trên thực tế.

Ý nghĩa của việc phân biệt chúng, theo chúng tôi, cũng chỉ mang tính lý luận. Chúng tôi cũng đồng ý với quan điểm cho rằng trách nhiệm hình sự đối với Tội lừa đảo không chỉ bó hẹp ở nghĩa vụ phải chịu hình phạt được quy định đối với tội phạm này, mà còn bao gồm cả nghĩa vụ chịu sự tác động của các hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, bị áp dụng các 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biện pháp cưỡng chế trách nhiệm hình sự (hình phạt và các biện pháp tư pháp) và bị mang án tích. Thậm chí, đối với cả các trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự thì trước khi xem xét tha miễn trách nhiệm hình sự, tính chất tội phạm của hành vi mà người đó đã thực hiện và nghĩa vụ pháp lý phải gánh chịu các biện pháp tác động mang tính hình sự (trách nhiệm hình sự) cũng vẫn được khẳng định. Miễn trách nhiệm hình sự chỉ có thể được áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội, bởi trách nhiệm hình sự phát sinh ngay tại thời điểm người nào đó thực hiện hành vi phạm tội.

Quyết định miễn trách nhiệm hình sự của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền vừa là căn cứ pháp lý ghi nhận hành vi của người được miễn trách nhiệm hình sự là tội phạm và trách nhiệm hình sự của họ, vừa là căn cứ chấm dứt trách nhiệm hình sự đối với họ, do đã thoả mãn điều kiện được miễn trách nhiệm hình sự 35. Người được miễn trách nhiệm hình sự không phải gánh chịu trên thực tế những hậu quả bất lợi mà luật quy định cho người đã thực hiện tội phạm đó, do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thấy rằng việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt hay các dạng trách nhiệm hình sự khác trong trường hợp này là không cần thiết và vì thế họ được miễn trách nhiệm hình sự. Khi người phạm tội bị tác động bởi hình thức trách nhiệm hình sự phổ biến là hình phạt, hay ngay cả trong trường hợp được miễn hình phạt thì đều có hậu quả là họ bị mang án tích trong một thời hạn nhất định và bị ghi vào lý lịch tư pháp. Trong thời gian chưa được xóa án tích mà lại phạm tội mới thì tùy từng trường hợp họ sẽ bị coi là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.

Đối với các Tội lừa đảo, hình thức trách nhiệm hình sự được quy định trong luật và quyết định trên thực tế cũng có những nét khác biệt so với các hình thức trách nhiệm hình sự được quy định và quyết định đối với người phạm tội thuộc nhóm tội khác. Sự khác biệt này xuất phát từ tính chất nguy hiểm cho xã hội của nhóm tội xâm phạm sở hữu và chính sách hình sự của Nhà nước đối với nhóm tội phạm này. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong xu thế mới, tiến bộ, các biện pháp tác động về kinh tế, tài sản đối với người phạm tội lừa đảo (như phạt tiền, tịch thu tài sàn, tịch thu tiền, vật trực tiếp liên quan đến tội phạm và buộc phải bồi thường thiệt hại) ngày càng được chú trọng, ưu tiên quy định và áp dụng. Về các hậu quả pháp lý hình sự cụ thể, ngoài hình phạt tử hình, Bộ luật hình sự còn quy định hệ thống hình phạt khác (bao gồm các hình phạt chính và các hình phạt bổ sung) và các biện pháp tư pháp với tư cách là các biện pháp tác động trách nhiệm hình sự (hậu quả pháp lý hình sự) được áp dụng đối với người phạm tội.

Tuy nhiên, không phải tất cả các dạng trách nhiệm này đều được quy định và áp dụng đối với người phạm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Từ những phân tích trên có thể khẳng định: a. Việc quy định trách nhiệm hình sự đối với lừa đảo chiếm đoạt tài sản là đòi hỏi tất yếu của việc bảo đảm quyền sơ hữu; b. Trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thể hiện sự phản kháng của nhà nước của xã hội đối với những hành vi lệch chuẩn, với các tiêu chí và thang giá trị xã hội, do đó nó có tác dụng răn đe cũng như hướng dẫn xử sự của các chủ thể; c.

Việc quy định các hình thức trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không những có ý nghĩa phân hóa tội phạm, cá thể hóa hình phạt đối với người phạm tội mà còn là sự bảo đảm cho sự bình đẳng trước pháp luật giữa những người phạm tội trên cơ sở nguyên tắc chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội do họ gây ra. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam 1. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam thời kỳ phong kiến Nhận thức được vai trò của pháp luật hình sự trong việc bảo vệ chế độ sở hữu nhằm củng cố, duy trì trật tự xã hội, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp của Nhà nước và các chủ thể pháp luật, nhiều Nhà nước phong kiến ở nước ta đã sử dụng hình luật để xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu. Dưới thời Lê Sơ mà đỉnh cao là triều đại trị vì của vua Lê Thánh Tông, Bộ luật Hồng Đức đã được ban hành, trong đó dành gần 50 Điều để thiết lập các quy định nhằm bảo vệ chế độ sở hữu phong kiến.

Theo Điều 370 Bộ luật Hồng Đức thì: Các nhà quyền quý chiếm đoạt nhà cửa, ruộng đất, ao đầm của lương dân, từ một mẫu trở lên thì xử tội phạt; từ năm mẫu trở lên thì xử tội biếm. Quan tam phẩm trở lên thì xử tội năng thêm hai bậc và phải bồi thường như luật định. Đã tâu lên rồi thì xử khác. Đối với những kẻ cướp (nghĩa là ban đêm cầm khí giới giết người lấy của): Thì xử tội chém, tòng phạm thì xử tội giảo, ngoài việc phải đền tang vật ăn cướp, điền sản phải sung công.

Cướp của lại giết người thì xử tội chém bêu đầu, tòng phạm xử chém phải nộp tiền đền mạng và tiền đền tang vật gấp đôi trả lại cho chủ nhà bị cướp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam tại Đà Nẵng" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các khía cạnh pháp lý liên quan đến tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, một vấn đề ngày càng nghiêm trọng trong xã hội hiện đại. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các quy định pháp luật hiện hành mà còn đưa ra những ví dụ thực tiễn, giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách thức hoạt động của tội phạm này và những biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan đến tội phạm trong luật hình sự, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học phòng ngừa tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, nơi đề cập đến các biện pháp phòng ngừa tội phạm tài sản. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ luật học tội mua bán đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em trong luật hình sự Việt Nam trên cơ sở thực tiễn tại địa bàn tỉnh Hà Giang cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc về các tội phạm liên quan đến trẻ em. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ luật học hành vi khách quan trong các tội xâm hại tình dục trẻ em theo luật hình sự Việt Nam, để nắm bắt thêm thông tin về các hành vi xâm hại trong bối cảnh pháp lý hiện nay.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn hiểu rõ hơn về các tội phạm trong luật hình sự mà còn mở ra cơ hội để bạn nghiên cứu sâu hơn về các vấn đề pháp lý liên quan.