Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Giám sát thi hành án dân sự" do nghiên cứu sinh Hoàng Thế Anh thực hiện tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Đào Trí Úc. Công trình thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật, mã số 62 38 01 01.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Thi hành án dân sự là khâu quan trọng nhằm đưa các bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án, Trọng tài thương mại và Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh ra thi hành trên thực tế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân theo tinh thần của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Điều 106 Hiến pháp năm 2013. Mặc dù thể chế pháp luật về thi hành án dân sự từng bước được hoàn thiện qua Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014, hoạt động thi hành án dân sự vẫn bộc lộ nhiều hạn chế nghiêm trọng.
Tính đến ngày 31/3/2015, số lượng việc thi hành án dân sự tồn đọng trên phạm vi toàn quốc còn khoảng 317.000 việc, tương ứng với số tiền phải thi hành gần 86 nghìn tỷ đồng. Riêng năm 2014, toàn quốc ghi nhận 6.718 việc khiếu nại và 532 việc tố cáo (trong đó có 40 việc bức xúc kéo dài chưa được giải quyết dứt điểm); 114 cán bộ, công chức thi hành án vi phạm pháp luật bị xử lý (98 trường hợp bị kỷ luật, 16 trường hợp bị khởi tố hình sự). Bên cạnh các nguyên nhân từ năng lực cán bộ và tính chất phức tạp của các phán quyết tư pháp, khoảng trống nghiên cứu và hạn chế cơ bản bắt nguồn từ việc hoạt động giám sát thi hành án dân sự chưa được tiếp cận toàn diện dưới góc độ lý luận khoa học pháp lý và khoa học hành chính, dẫn đến việc giám sát chưa trở thành công cụ kiểm soát quyền lực hữu hiệu.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là xác định vai trò của giám sát trong hoạt động thi hành án dân sự; đánh giá thực trạng giám sát thi hành án dân sự tại Việt Nam; từ đó đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp bảo đảm nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát thi hành án dân sự nhằm nâng cao chất lượng thi hành án và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định ba nhóm nhiệm vụ cụ thể:
- Làm rõ khái niệm, vị trí, bản chất, vai trò của thi hành án dân sự; xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh về giám sát thi hành án dân sự.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động giám sát thi hành án dân sự tại Việt Nam theo quy định pháp luật và thực tiễn triển khai.
- Luận giải các quan điểm và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về thi hành án dân sự và giám sát thi hành án dân sự; thực trạng hoạt động giám sát thi hành án dân sự trong tiến trình cải cách bộ máy nhà nước và cải cách tư pháp; hệ thống cơ chế, chính sách và văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến giám sát thi hành án dân sự.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Nghiên cứu hoạt động thi hành án và giám sát thi hành án dân sự trên địa bàn tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương của Việt Nam.
- Về thời gian: Tập trung khảo sát từ thời điểm công tác thi hành án dân sự được chuyển giao từ hệ thống Tòa án nhân dân sang Chính phủ quản lý (tháng 7/1993) cho đến năm 2015.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân tích tổng quan các công trình đã công bố theo hai nhóm vấn đề chính:
Các công trình nghiên cứu liên quan đến thi hành án dân sự
Tác giả đã điểm lại hệ thống công trình nghiên cứu trong nước về thi hành án dân sự ở các bình diện:
- Mô hình tổ chức và quản lý: Đề tài khoa học cấp Bộ của Bộ Tư pháp "Về mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án" (1996); Đề tài khoa học cấp Nhà nước "Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới" (2003); Đề tài KX.06 thuộc Chương trình khoa học xã hội cấp Nhà nước do Bộ Tư pháp chủ trì (2001-2005); các báo cáo tổng kết 10 năm (1993-2003), 20 năm (1993-2013) và sơ kết Luật Thi hành án dân sự năm 2008 của Bộ Tư pháp (2012); công trình "Cải cách cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan Thi hành án trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền" của Lê Cảm (2006); bài viết của Mai Kim Liên (2006) về tính độc lập của cơ quan thi hành án.
- Thủ tục, cưỡng chế và chế tài: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thanh Thủy (2003), Nguyễn Quang Thái (2003), Đặng Đình Quyền (2012), Nguyễn Tuấn An (2014); luận văn thạc sĩ của Nguyễn Công Long (2000), Lê Anh Tuấn (2005), Lê Văn Lương (2012); Giáo trình Kỹ năng thi hành án dân sự của Học viện Tư pháp (2004); Giáo trình Luật Thi hành án dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội (2009).
- Xã hội hóa và giải quyết án tồn đọng: Đề tài về "Thừa phát lại" do Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý và Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh phối hợp thực hiện; luận văn thạc sĩ của Lê Xuân Hồng (2002) và công trình của Nguyễn Đức Nghĩa (2003).
- Kinh nghiệm quốc tế: Công trình nghiên cứu của Bộ Tư pháp (2011), kỷ yếu hội thảo của Nhà pháp luật Việt - Pháp (2006) và bài viết của Nguyễn Công Bình (1999) về Singapore.
Các công trình nghiên cứu liên quan đến giám sát và kiểm soát quyền lực
- Lý luận về kiểm soát quyền lực và giám sát của Quốc hội: Đề tài khoa học KX.TS của Trần Ngọc Đường; Đề tài KX 10-07 do Đào Trí Úc làm chủ nhiệm; Đề tài cấp Bộ của Nguyễn Văn Mạnh (2000-2001); sách của Nguyễn Đăng Dung (2000), Trịnh Thị Xuyến (2008), Phạm Ngọc Kỳ (1995), Lê Minh Thông (2001), Đào Trí Úc và Võ Khánh Vinh (2003), Nguyễn Sĩ Dũng (2004, 2006); luận án tiến sĩ của Phạm Trọng Kỳ (1993), Phạm Văn Hùng (2004), Trương Thị Hồng Hà (2007); các bài báo khoa học của Phan Trung Lý, Trần Thị Tuyết Mai, Bùi Xuân Đức, Chu Văn Hưởng, Lương Minh Tuân, Nguyễn Mạnh Bình, Vũ Anh Tuấn, Lê Văn Cảm và Dương Bá Thành.
- Nghiên cứu quốc tế: Công trình luận án tiến sĩ của E. Kovriakova về hoạt động giám sát của nghị viện tại các nước Nga, Mỹ, Đức, Pháp; các nghiên cứu so sánh hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam với Nhật Bản, Thụy Điển của Trương Thị Hồng Hà (2006).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề kiểm soát quyền lực và hoạt động giám sát ở tầm vĩ mô của Quốc hội đối với Chính phủ hoặc cơ quan tư pháp nói chung. Hoạt động giám sát thi hành án dân sự chỉ được đề cập tản mạn trong các báo cáo sơ kết, tổng kết của các cơ quan quản lý và kiểm sát. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu trực diện, toàn diện và có hệ thống về cơ chế giám sát thi hành án dân sự từ góc độ kết hợp giữa khoa học pháp lý và khoa học hành chính, làm rõ tính đặc thù của chủ thể, đối tượng, hình thức và phương thức giám sát trong lĩnh vực này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách bộ máy nhà nước và cải cách tư pháp (Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị).
Về mặt lý luận, tác giả hệ thống hóa 5 quan điểm học thuật khác nhau về bản chất của thi hành án dân sự:
- Hoạt động tố tụng hành chính (do cơ quan hành pháp đảm nhiệm sau khi chuyển giao từ Tòa án).
- Hoạt động hành chính tư pháp.
- Hoạt động tố tụng dân sự (giai đoạn cuối cùng của tố tụng dân sự).
- Loại tố tụng đặc biệt (kết hợp quyền tự định đoạt và tính cưỡng chế nhà nước).
- Hoạt động tư pháp thuần túy.
Từ việc phân tích các hạn chế của từng quan điểm, luận án định vị bản chất của thi hành án dân sự là hoạt động mang tính chất hành chính - tư pháp, vừa có tính chấp hành, điều hành phối hợp liên ngành, vừa là giai đoạn "nối dài" của quá trình tố tụng nhằm bảo đảm công lý được hiện thực hóa.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương pháp luận chủ đạo, kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể được phân bổ theo từng chương:
- Phương pháp lịch sử, phân tích, quy nạp: Sử dụng chủ yếu tại Chương 2 để phân tích các văn bản, làm rõ các khái niệm, đặc trưng, vai trò và xây dựng khung lý thuyết xuyên suốt.
- Phương pháp lịch sử, phân tích, tổng hợp, thống kê, phỏng vấn, khảo sát: Ứng dụng trọng tâm tại Chương 3 để xử lý số liệu báo cáo, tổng kết thực tiễn hoạt động giám sát và nhận diện tồn tại, hạn chế.
- Phương pháp phân tích, chứng minh: Được sử dụng chủ yếu tại Chương 4 để luận giải các định hướng, quan điểm và giải pháp bảo đảm giám sát thi hành án dân sự.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Dữ liệu sử dụng trong luận án được trích xuất từ:
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013, Luật Thi hành án dân sự 2008 và sửa đổi 2014, Pháp lệnh Thi hành án dân sự 1989 và 2004, các bộ luật tố tụng.
- Báo cáo công tác của Chính phủ trình Quốc hội về công tác thi hành án dân sự từ năm 1993 đến năm 2014.
- Báo cáo sơ kết, tổng kết 10 năm, 20 năm của Bộ Tư pháp và số liệu nghiệp vụ từ Tổng cục Thi hành án dân sự tính đến ngày 31/3/2015.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong nước và quốc tế theo hai mảng lớn: thi hành án dân sự và giám sát thi hành án dân sự.
- Về thi hành án dân sự, các nghiên cứu đã tập trung làm rõ thẩm quyền quản lý, thủ tục thi hành án, biện pháp cưỡng chế, xã hội hóa thông qua chế định Thừa phát lại và biện pháp giải quyết án tồn đọng.
- Về giám sát, các công trình chủ yếu khai thác quyền giám sát tối cao của Quốc hội, cơ chế phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước, cùng kinh nghiệm giám sát nghị viện tại các nước như Nga, Mỹ, Pháp, Đức, Thụy Điển, Nhật Bản.
- Tác giả khẳng định vấn đề giám sát thi hành án dân sự dưới tư cách một chế định độc lập trong bộ máy nhà nước chưa được nghiên cứu chuyên sâu, từ đó xác lập tính cần thiết của việc xây dựng luận án.
Chương 2: Cơ sở lý luận về giám sát thi hành án dân sự ở Việt Nam
Chương 2 làm rõ hệ thống khái niệm, đặc trưng và các yếu tố cấu thành của khung lý thuyết:
- Khái niệm và tính chất: Thi hành án dân sự là việc các bên đương sự tự nguyện chấp hành hoặc dưới sự tác động của Cơ quan Thi hành án dân sự thực hiện hành vi theo quy định pháp luật để thi hành phán quyết của Tòa án và cơ quan có thẩm quyền. Về bản chất, đây là hoạt động mang tính hành chính - tư pháp và là sự tiếp nối quá trình tố tụng.
- Đặc trưng của thi hành án dân sự: (1) Là giai đoạn tiếp nối ("nối dài") của quá trình tố tụng; (2) Tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, đề cao tính tích cực của người được thi hành án và người phải thi hành án; (3) Lấy hoạt động của chấp hành viên làm trung tâm.
- Vai trò của thi hành án dân sự: Là phương tiện đưa bản án vào cuộc sống; là thước đo kiểm nghiệm quá trình tố tụng; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người liên quan; góp phần bảo đảm trật tự pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
- Lý luận về giám sát thi hành án dân sự: Luận án phân biệt rõ giám sát với kiểm sát (chức năng của Viện kiểm sát), thanh tra và kiểm tra nội bộ ngành hành chính. Xác định các chủ thể giám sát (Quốc hội, HĐND, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, nhân dân, các đương sự), đối tượng giám sát (Cơ quan Thi hành án dân sự, Chấp hành viên và các cơ quan hữu quan).
- Nội dung giám sát: Bao gồm theo dõi, kiểm tra tính hợp pháp của hoạt động thi hành án; yêu cầu đối tượng giám sát điều chỉnh hành vi, quyết định sai phạm; kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý, hoàn thiện cơ chế, chính sách.
- Hình thức và phương thức: Giám sát trực tiếp, giám sát gián tiếp; thông qua xét báo cáo, chất vấn, thành lập đoàn giám sát, xem xét giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo.
Chương 3: Thực trạng giám sát thi hành án dân sự ở Việt Nam
Chương 3 phân tích thực trạng thực hiện quyền giám sát của từng chủ thể và đánh giá thực tiễn:
- Hoạt động giám sát của các chủ thể: Phân tích kết quả giám sát của Nhân dân; Quốc hội và HĐND các cấp; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; Viện kiểm sát nhân dân qua chức năng kiểm sát thi hành án; người được thi hành án, người phải thi hành án và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Số liệu phản ánh thực trạng: Số liệu tổng hợp kết quả thi hành án dân sự về việc và về tiền giai đoạn 2009 - 2014 được trình bày như sau:
| Năm |
Tỷ lệ đạt về việc (%) |
Tỷ lệ đạt về tiền (%) |
| 2009 |
78,72 |
67,08 |
| 2010 |
86,35 |
80,10 |
| 2011 |
87,96 |
76,10 |
| 2012 |
88,58 |
76,94 |
| 2013 |
86,55 |
73,71 |
| 2014 |
88,47 |
76,72 |
- Hạn chế và sai phạm trong hoạt động thi hành án:
- Tồn đọng thi hành án lớn: đến 31/3/2015 còn 317.000 việc, tương ứng gần 86 nghìn tỷ đồng chưa thi hành xong.
- Khiếu nại, tố cáo phức tạp: Năm 2014 xảy ra 6.718 việc khiếu nại, 532 việc tố cáo (có 40 vụ việc bức xúc kéo dài).
- Sai phạm cán bộ: Năm 2014 có 114 cán bộ bị xử lý kỷ luật và khởi tố (98 trường hợp kỷ luật, 16 trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự).
- Sai sót trong bản án: Trong 10 tháng năm 2014, cơ quan thi hành án đã ban hành 779 văn bản yêu cầu Tòa án giải thích, đính chính bản án tuyên không rõ; 142 văn bản kiến nghị xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
- Nguyên nhân hạn chế: Cơ chế pháp lý về giám sát chưa đồng bộ, chế tài sau giám sát thiếu hiệu lực bắt buộc; kỹ năng, điều kiện giám sát của đại biểu dân cử và tổ chức đoàn thể còn hạn chế; hiện tượng can thiệp trái pháp luật hoặc cố tình trì hoãn thi hành án; một bộ phận cán bộ thi hành án nhũng nhiễu, vi phạm kỷ luật chuyên môn.
Chương 4: Bảo đảm giám sát thi hành án dân sự ở Việt Nam trong thời gian tới
Chương này đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể:
- 5 quan điểm bảo đảm giám sát:
- Đặt trong tổng thể công cuộc cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.
- Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Không làm ảnh hưởng đến tính ổn định và phát triển của công tác thi hành án dân sự.
- Góp phần hạn chế tình trạng tiêu cực, sách nhiễu và vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự.
- Phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội.
- 4 nhóm giải pháp:
- Hoàn thiện thể chế: Sửa đổi, bổ sung các quy định về giám sát trong Luật Thi hành án dân sự, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND; quy định rõ ràng trách nhiệm giải trình và chế tài xử lý khi không thực hiện kết luận, kiến nghị sau giám sát.
- Tăng cường hoạt động giám sát: Đổi mới hoạt động giám sát chuyên đề của Quốc hội, các Ban của HĐND; nâng cao hiệu lực kiểm sát của Viện kiểm sát; phát huy vai trò giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các cơ quan báo chí.
- Nâng cao nhận thức xã hội: Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người dân và đương sự về quyền giám sát, khiếu nại, tố cáo; nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của Chấp hành viên.
- Đổi mới phương thức giám sát: Mở rộng phạm vi và đối tượng giám sát; kết hợp linh hoạt giữa giám sát định kỳ với giám sát đột xuất, tăng cường ứng dụng cơ chế kiểm tra chéo và đối thoại trực tiếp.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:
- Đóng góp lý luận:
- Là công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện về giám sát thi hành án dân sự dưới góc độ khoa học pháp lý và khoa học hành chính.
- Làm sâu sắc bản chất hành chính - tư pháp của thi hành án dân sự, khẳng định thi hành án dân sự là giai đoạn tiếp nối ("nối dài") của quá trình tố tụng nhằm bảo đảm công lý.
- Xây dựng hoàn chỉnh khung lý thuyết về giám sát thi hành án dân sự, phân định rõ ranh giới giữa giám sát với kiểm sát, thanh tra, kiểm tra; xác định rõ nội dung, chủ thể, đối tượng, hình thức và phương thức giám sát.
- Đóng góp thực tiễn:
- Khái quát bức tranh thực trạng giám sát thi hành án dân sự tại Việt Nam từ năm 1993 đến năm 2015 thông qua các chỉ số thống kê thực tế về kết quả thi hành, án tồn đọng, khiếu nại tố cáo và sai phạm cán bộ.
- Chỉ rõ các bất cập trong thể chế giám sát hiện hành và nguyên nhân của những yếu kém.
- Kiến nghị và giải pháp:
- Đề xuất 5 quan điểm định hướng nhất quán với công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền theo Hiến pháp năm 2013.
- Kiến nghị hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện quy định pháp luật, đổi mới quy trình nghiệp vụ giám sát của Quốc hội, HĐND, Viện kiểm sát đến mở rộng cơ chế tham gia giám sát của cộng đồng và đương sự.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Về phạm vi thời gian và số liệu: Nghiên cứu tập trung vào giai đoạn từ tháng 7/1993 đến đầu năm 2015, chủ yếu dựa trên các báo cáo định kỳ của Chính phủ, Bộ Tư pháp và Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
- Về góc độ tiếp cận: Do thuộc mã số chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật, luận án tập trung giải quyết các vấn đề bản chất lý luận, cơ chế thiết chế chung mà chưa đi sâu vào từng kỹ năng tác nghiệp cơ học chi tiết của Chấp hành viên trong từng loại vụ việc cưỡng chế cụ thể.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu lực thi hành thực tế của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014 và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân ban hành sau mốc 2015.
- Nghiên cứu cơ chế chế tài ràng buộc đối với các chủ thể không chấp hành kết luận, kiến nghị sau giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp và Mặt trận Tổ quốc.
- Mở rộng nghiên cứu so sánh về kinh nghiệm giải quyết xung đột lợi ích và kiểm soát quyền lực Chấp hành viên tại các quốc gia theo mô hình Thừa phát lại tư nhân.
Giá trị tham khảo
- Đối với công tác đào tạo, nghiên cứu: Luận án là tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật, Luật Tố tụng dân sự và Khoa học hành chính. Phần khung lý thuyết phân định giám sát với kiểm sát, thanh tra, kiểm tra tại Chương 2 có giá trị học thuật cao trong việc giảng dạy môn học Luật Thi hành án dân sự và Tổ chức bộ máy nhà nước.
- Đối với các cơ quan dân cử và quản lý nhà nước:
- Cung cấp cơ sở khoa học để Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp nâng cao chất lượng hoạt động giám sát chuyên đề và chất vấn đối với công tác thi hành án dân sự.
- Giúp Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự nhận diện các "điểm nghẽn" thể chế dẫn đến khiếu nại, tố cáo và vi phạm kỷ luật của Chấp hành viên, từ đó ban hành các quy chế quản lý nghiệp vụ phù hợp.
- Đối với người làm thực tiễn tư pháp: Giúp Chấp hành viên, Viện kiểm sát nhân dân các cấp hiểu rõ địa vị pháp lý, quyền hạn và nghĩa vụ giải trình trong quy trình kiểm sát và phối hợp cưỡng chế thi hành án.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định bản chất của hoạt động thi hành án dân sự là gì?
Tác giả phân tích 5 quan điểm hiện hành và kết luận thi hành án dân sự mang tính chất hành chính - tư pháp. Hoạt động này là giai đoạn "nối dài" của quá trình tố tụng, vừa mang tính chất tư pháp (hiện thực hóa các phán quyết của Tòa án), vừa mang tính chất hành chính (tổ chức thực hiện, quản lý nghiệp vụ, cưỡng chế nhà nước và phối hợp liên ngành).
2. Tình trạng án tồn đọng và sai phạm của cán bộ thi hành án được ghi nhận bằng số liệu nào?
Theo báo cáo được trích dẫn trong luận án:
- Đến ngày 31/3/2015, cả nước tồn đọng khoảng 317.000 việc, tương ứng số tiền gần 86 nghìn tỷ đồng.
- Năm 2014 phát sinh 6.718 việc khiếu nại, 532 việc tố cáo (có 40 vụ bức xúc kéo dài).
- Năm 2014 có 114 cán bộ vi phạm bị xử lý (98 người bị kỷ luật, 16 người bị khởi tố hình sự).
- Trong 10 tháng năm 2014, có 779 văn bản yêu cầu Tòa án giải thích bản án không rõ và 142 văn bản kiến nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm.
3. Tỷ lệ thi hành án dân sự đạt được về việc và về tiền giai đoạn 2010 - 2014 là bao nhiêu?
Theo phụ lục thống kê của luận án:
- Năm 2010: đạt 86,35% về việc; 80,10% về tiền.
- Năm 2011: đạt 87,96% về việc; 76,10% về tiền.
- Năm 2012: đạt 88,58% về việc; 76,94% về tiền.
- Năm 2013: đạt 86,55% về việc; 73,71% về tiền.
- Năm 2014: đạt 88,47% về việc; 76,72% về tiền.
4. Các chủ thể giám sát thi hành án dân sự ở Việt Nam gồm những ai theo phân loại của tác giả?
Luận án xác định các nhóm chủ thể giám sát gồm:
- Nhân dân (công dân thực hiện quyền giám sát).
- Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội.
- Viện kiểm sát nhân dân (thông qua hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự).
- Người được thi hành án, người phải thi hành án và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
5. Tác giả đề xuất những nhóm giải pháp nào để bảo đảm giám sát thi hành án dân sự?
Luận án đề xuất 4 nhóm giải pháp cơ bản:
- Hoàn thiện thể chế và khung pháp luật về giám sát thi hành án dân sự.
- Tăng cường hiệu lực hoạt động thực tế của các chủ thể giám sát (Quốc hội, HĐND, VKSND, Mặt trận Tổ quốc).
- Nâng cao nhận thức của cơ quan nhà nước, đoàn thể và nhân dân đối với công tác giám sát.
- Mở rộng đối tượng, nội dung và đổi mới hình thức, phương thức giám sát thi hành án.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Giám sát thi hành án dân sự" của tác giả Hoàng Thế Anh là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống, tiếp cận vấn đề dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật. Tác giả đã luận giải thấu đáo bản chất hành chính - tư pháp của thi hành án dân sự, làm rõ vị trí trung tâm của chấp hành viên và tính nối dài của quá trình tố tụng. Bằng việc phân tích các số liệu thực tế về kết quả thi hành, án tồn đọng, khiếu nại tố cáo và sai phạm cán bộ giai đoạn 1993 - 2015, luận án đã chỉ rõ khoảng trống thể chế trong kiểm soát quyền lực nhà nước đối với lĩnh vực thi hành án. Hệ thống quan điểm và giải pháp được tác giả đề xuất phản ánh giá trị lý luận và thực tiễn phục vụ công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.