Tổng quan luận án
Công trình Pháp luật giám sát hoạt động của ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay được tác giả Nguyễn Đình Phúc thực hiện dưới dạng luận án tiến sĩ luật học, chuyên ngành Luật Kinh tế (mã số: 9.07) tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2018, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Đức Minh và TS. Nguyễn Văn Vân.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) giữ vị trí huyết mạch trong nền kinh tế Việt Nam. Do tính chất kinh doanh tiền tệ tiềm ẩn nhiều nguy cơ tác động đến an toàn vĩ mô, hoạt động của các NHTM chịu sự giám sát chặt chẽ từ Nhà nước thông qua các công cụ pháp lý, trọng tâm là Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017.
Nghiên cứu xuất phát từ hai nhóm lý do:
- Về phương diện lý luận: Các công trình nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề giám sát ngân hàng dưới giác độ quản lý nhà nước hoặc khoa học quản trị kinh doanh ngân hàng. Khía cạnh điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động giám sát NHTM vẫn chưa được nghiên cứu sâu sắc và toàn diện; Việt Nam vẫn đang trong quá trình tìm kiếm một mô hình giám sát ngân hàng thích hợp.
- Về phương diện thực tiễn: Khung pháp lý về giám sát hoạt động NHTM còn tồn tại nhiều điểm chồng chéo, bất cập và chậm có văn bản hướng dẫn chi tiết; hệ thống giám sát chưa đạt hiệu quả cao trong bối cảnh các NHTM tăng trưởng nhanh về quy mô và hội nhập quốc tế sâu rộng; các quy chuẩn an toàn chưa theo kịp chuẩn mực quốc tế như Basel II, Basel III; nguyên tắc thị trường và kỷ luật thông tin chưa bảo đảm tính minh bạch; năng lực của đội ngũ cán bộ giám sát và kết cấu hạ tầng kỹ thuật hỗ trợ chưa đáp ứng yêu cầu thực tế.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là việc thiếu vắng một công trình nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học về cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động giám sát NHTM tại Việt Nam nhằm đưa ra các giải pháp sửa đổi luật thực định và nâng cao hiệu lực thi hành.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát là làm rõ thực trạng quy định của pháp luật về giám sát hoạt động của NHTM, chỉ ra những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp khắc phục các bất cập pháp lý và nâng cao hiệu quả giám sát hoạt động NHTM tại Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm:
- Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về giám sát hoạt động của NHTM và pháp luật giám sát hoạt động của NHTM.
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật giám sát hoạt động của NHTM tại Việt Nam trên các phương diện: chủ thể giám sát; đối tượng và phạm vi giám sát; nội dung, hình thức và phương pháp giám sát; trình tự, thủ tục giám sát và xử lý vi phạm trong quá trình giám sát; nhận diện những hạn chế, bất cập và nguyên nhân.
- Xác định tính cấp thiết, yêu cầu và phương hướng hoàn thiện pháp luật, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật giám sát hoạt động NHTM và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật tại Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Luận án xác lập ba nhóm câu hỏi nghiên cứu:
- Giám sát hoạt động của NHTM là gì? Tại sao cần giám sát hoạt động của NHTM? Tính chất của giám sát hoạt động của NHTM? Cơ quan nào có thẩm quyền giám sát hoạt động của NHTM? Những hoạt động nào của NHTM cần được giám sát? Giám sát hoạt động của NHTM khi nào và giám sát bằng cách nào?
- Sự hoạt động kém hiệu quả của hệ thống NHTM nước ta hiện nay phải chăng có nguyên nhân từ sự bất cập, hạn chế của pháp luật về giám sát hoạt động của các NHTM và việc thực hiện không đúng quy định pháp luật ngân hàng, pháp luật về giám sát hoạt động của NHTM? Pháp luật hiện hành về giám sát hoạt động của NHTM đã đáp ứng mức độ nào các yêu cầu đối với hệ thống pháp luật có chất lượng?
- Nếu kết quả nghiên cứu cho thấy những hạn chế, bất cập của pháp luật giám sát hoạt động của NHTM thì những giải pháp nào có thể dự liệu và đề xuất nhằm khắc phục, giải quyết những hạn chế, bất cập đó? Việc hoàn thiện pháp luật giám sát hoạt động của NHTM cần tuân thủ các nguyên tắc, định hướng chỉ đạo nào và cần đáp ứng những yêu cầu gì? Việc hoàn thiện pháp luật về giám sát hoạt động của NHTM cần hướng tới mục tiêu theo những định hướng nào?
Giả thuyết nghiên cứu: Pháp luật về giám sát hoạt động của các NHTM Việt Nam hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu bảo đảm cơ sở pháp lý cho sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống NHTM; chưa bảo vệ đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền; chưa duy trì vững chắc lòng tin của công chúng đối với hệ thống NHTM và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng còn hạn chế.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-
Đối tượng nghiên cứu:
- Các quan điểm, học thuyết về hoạt động của NHTM, giám sát ngân hàng và giám sát hoạt động của NHTM;
- Lý thuyết về điều chỉnh pháp luật đối với giám sát ngân hàng và giám sát hoạt động của NHTM;
- Quy định pháp luật tương ứng của các quốc gia về giám sát ngân hàng để so sánh, đối chiếu;
- Quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam và thực tiễn thi hành pháp luật về giám sát hoạt động của NHTM.
-
Phạm vi nghiên cứu:
- Về chủ thể giám sát: Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động giám sát do các cơ quan nhà nước có chức năng, thẩm quyền thực hiện (chủ yếu là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng). Các hoạt động giám sát nội bộ của NHTM, giám sát của cộng đồng hoặc hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam không phải là đối tượng nghiên cứu chính.
- Về khách thể và nội dung: Nghiên cứu pháp luật điều chỉnh việc giám sát hoạt động ngân hàng (nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản) và các hoạt động kinh doanh liên quan của NHTM theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 và Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Các hoạt động cấp phép, tổ chức lại, giải thể, phá sản chỉ được giới thiệu khái quát mà không đi sâu phân tích.
- Giới hạn loại trừ: Luận án không nghiên cứu mảng pháp luật điều chỉnh hoạt động giám sát của chủ sở hữu nhà nước đối với phần vốn nhà nước tại các NHTM do Nhà nước nắm giữ 100% vốn hoặc giữ cổ phần chi phối.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo các nhóm nội dung cụ thể:
Các hướng nghiên cứu đã điểm lại trong văn bản
- Lý luận về ngân hàng thương mại và hoạt động của ngân hàng thương mại: Giáo trình Luật Ngân hàng của Nguyễn Văn Vân (Chủ biên, 2015) phân tích hai phương thức thể hiện khái niệm hoạt động ngân hàng; cuốn sách Nghiệp vụ NHTM của Nguyễn Minh Kiều (2012) phân loại các nghiệp vụ nhận tiền gửi, cấp tín dụng, thanh toán, ngân quỹ, kinh doanh ngoại hối; các giáo trình của Nguyễn Văn Tiến (2012) và Nguyễn Đăng Dổi (2011) luận giải cơ chế quản trị và nghiệp vụ NHTM.
- Lý luận về giám sát ngân hàng và các phương pháp, mô hình giám sát:
- Trong nước: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Minh Huệ (2010) và sách của Đỗ Thanh Hà (2015) phân tích khái niệm giám sát ngân hàng theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp; đề tài cấp Bộ của Hoàng Xuân Quế (2011) nghiên cứu tăng cường cảnh báo sớm; luận văn của Phan Thị Mai Trang (2014) về khuôn khổ pháp lý sau khủng hoảng; sách của Tô Ngọc Hưng (Chủ biên, 2011) phân tích 25 nguyên tắc Basel và 4 mô hình giám sát tài chính (thể chế, chức năng, lưỡng đỉnh, hợp nhất); luận án tiến sĩ của Trần Việt Dung (2017) và sách của Hoàng Công Gia Khánh, Hoàng Trọng Nghĩa (2018) nghiên cứu các hiệp ước Basel I, Basel II, Basel III; bài viết của Nguyễn Bảo Huyền, Đỗ Thị Thanh Tú (2009) phân loại mô hình độc lập, tích hợp, hỗn hợp; nghiên cứu của Lê Trung Kiên (2010), Nguyễn Hương Giang (2010), Tạ Bá Tửu (2005), Lê Thị Huyền Diệu (2009), Võ Tạo và Nguyễn Xuân Hùng (2010), Lê Hải Mơ và Lê Thị Thùy Vân phân tích tính độc lập của Ngân hàng Trung ương và xu hướng cải cách giám sát tài chính.
- Quốc tế: Alessandro De Chiara (2016) nghiên cứu giám sát linh hoạt và bắt buộc; từ điển pháp lý Creifelds (Đức) định nghĩa giám sát ngân hàng; các tài liệu đánh giá tuân thủ nguyên tắc Basel (BCP) của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) xuất bản năm 2016-2017 tại Bulgaria, Thổ Nhĩ Kỳ, Liên bang Nga (đối với CBR), Vương quốc Anh, Montenegro, Ireland (về Cơ chế Giám sát Đơn nhất - SSM); nghiên cứu của Barth, J.A (2002) với dữ liệu từ 70 quốc gia chỉ ra mối liên hệ giữa cơ cấu giám sát và nợ xấu; Goodhart (2000) và Ioannidou (2002) nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách tiền tệ tại Hoa Kỳ (FED, OCC, FDIC); Mario Centeno và Silva (2016) tại Bồ Đào Nha; Howarth và Macartney (2018), Felix Lippe-Peffgen (2017), Eisenbach và cộng sự (2016) về giám sát siêu quốc gia ở châu Âu; Giacomo Calzolari (2017) về giám sát ngân hàng đa quốc gia (MNB).
- Lý luận và thực trạng pháp luật giám sát hoạt động NHTM tại Việt Nam: Đào Đức Lượng và Viên Thế Giang (2015) nêu lý do điều chỉnh pháp luật về giám sát tài chính; Viên Thế Giang (2011, 2012) phân tích các điểm mới và bất cập về thẩm quyền giám sát theo Luật NHNN năm 2010; Nguyễn Chí Đức (2012), Đặng Đức Thành (2015) phân tích sự thiếu hụt trong đáp ứng chuẩn mực Basel và nợ xấu; Đỗ Thanh Hà (2015) phân tích thực tiễn tại TP. Hồ Chí Minh gắn với các vụ án lớn (Nguyễn Đức Kiên tại ACB, Huỳnh Thị Huyền Như tại Vietinbank, Công ty Cho thuê tài chính II - ALC II thuộc Agribank); Vũ Thị Minh Hằng và Nguyễn Anh Tuấn (2010), Nguyễn Chí Đức và Hoàng Trọng (2010), Nguyễn Thị Thanh Bình (2014) đánh giá hạn chế về khung pháp lý và tính minh bạch.
- Phương hướng và giải pháp hoàn thiện: Các đề xuất xây dựng mô hình giám sát hợp nhất đến năm 2020 của Tô Ngọc Hưng (2011); giải pháp xây dựng Luật về giám sát ngân hàng của Đào Đức Lượng và Viên Thế Giang (2015); giải pháp kiện toàn bộ máy và công nghệ của Đặng Đức Thành (2015), Trần Đăng Phi (2013), Lê Ngọc Lan và Bùi Thị Thu Trang (2011), Dương Văn Thảo và Nguyễn Mạnh Hùng (2011).
| Nhóm nội dung nghiên cứu | Tác giả, công trình tiêu biểu ghi nhận trong văn bản | Trọng tâm phân tích |
|---|---|---|
| Lý luận về NHTM và HĐNH | Nguyễn Văn Vân (2015), Nguyễn Minh Kiều (2012), Nguyễn Văn Tiến (2012), Nguyễn Đăng Dổi (2011) | Khái niệm, đặc trưng nghiệp vụ và phân loại hoạt động ngân hàng |
| Lý luận và mô hình giám sát ngân hàng | Tô Ngọc Hưng (2011), Đỗ Thanh Hà (2015), Barth (2002), Goodhart (2000), IMF (2016-2017), Ủy ban Basel | Các nguyên tắc Basel, mô hình tổ chức giám sát và vai trò của NHTW |
| Thực trạng pháp luật và thực thi tại Việt Nam | Viên Thế Giang (2011, 2012), Đào Đức Lượng (2015), Đặng Đức Thành (2015), Nguyễn Thị Minh Huệ (2010) | Bất cập về thẩm quyền, phương pháp giám sát tuân thủ, xử lý vi phạm thực tế |
| Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện | Trần Đăng Phi (2013), Vũ Thị Minh Hằng & Nguyễn Anh Tuấn (2010), Lê Ngọc Lan & Bùi Thị Thu Trang (2011) | Hoàn thiện khung pháp lý, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm và công nghệ giám sát |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng kết tài liệu cho thấy, mặc dù các nghiên cứu trong và ngoài nước đã làm rõ nhiều khía cạnh về quản lý và kinh tế, song ở góc độ khoa học luật học chuyên ngành Luật Kinh tế, các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động giám sát NHTM ở Việt Nam vẫn chưa được mổ xẻ có hệ thống. Luận án lựa chọn giải quyết các vấn đề chưa được nghiên cứu sâu sắc:
- Làm rõ cấu trúc pháp lý hoàn chỉnh của pháp luật giám sát hoạt động NHTM (chủ thể, đối tượng, phạm vi, phương pháp, thủ tục, xử lý vi phạm);
- Phân tích những bất cập cụ thể của các văn bản pháp luật hiện hành và sự thiếu tương thích với chuẩn mực giám sát quốc tế (Basel II, Basel III);
- Xây dựng hệ thống giải pháp lập pháp và giải pháp thực thi đồng bộ, có tính khả thi trong điều kiện Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án sử dụng 4 cơ sở lý thuyết chính:
- Lý thuyết về nhà nước và pháp luật: Vận dụng giải thích nguồn gốc, bản chất, chức năng của Nhà nước và vai trò điều tiết, giám sát của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường; xác lập tính tất yếu khách quan của pháp luật giám sát ngân hàng.
- Lý thuyết về giám sát tài chính: Sử dụng để định hình khái niệm, bản chất, phân loại mô hình, phương pháp và phương thức giám sát hoạt động ngân hàng.
- Lý thuyết về bảo đảm an toàn hệ thống tài chính tiền tệ quốc gia: Dùng làm căn cứ nhận diện, kết luận về yêu cầu bảo đảm an toàn hệ thống, mục tiêu và cơ chế giám sát an toàn vĩ mô và vi mô đối với các NHTM.
- Lý thuyết về rủi ro và quản trị rủi ro: Vận dụng làm tiêu chí đánh giá chất lượng pháp luật giám sát và đề xuất đổi mới phương pháp giám sát từ giám sát tuân thủ sang giám sát trên cơ sở rủi ro.
Phương pháp tiếp cận nghiên cứu
- Tiếp cận chuyên ngành và liên ngành khoa học xã hội: Lấy chuyên ngành Luật Kinh tế làm chủ đạo, kết hợp tri thức của các ngành kinh tế học, quản lý học, tài chính - ngân hàng, hành chính học. Việc đánh giá hiệu quả pháp luật giám sát được căn cứ trên các tiêu chí pháp lý chứ không dùng mô hình toán kinh tế lượng.
- Tiếp cận hệ thống: Đặt hoạt động giám sát NHTM trong tổng thể mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường, giữa mục tiêu chính sách tiền tệ và an toàn hệ thống tổ chức tín dụng.
- Tiếp cận định tính: Phân tích quy phạm pháp luật, khái niệm, tính chất pháp lý và đánh giá thực trạng các quy định điều chỉnh hoạt động NHTM.
- Tiếp cận thực tiễn: Đối chiếu quy định pháp luật với thực tế áp dụng tại Việt Nam để bảo đảm tính khả thi của các đề xuất.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp tổng hợp và hệ thống hóa: Thu thập, phân loại các công trình khoa học và quy chuẩn pháp lý để xây dựng bức tranh tổng quan và khung lý luận.
- Phương pháp phân tích: Mổ xẻ từng chế định pháp lý về thẩm quyền, đối tượng, nội dung, trình tự thủ tục và chế tài xử lý vi phạm trong giám sát hoạt động NHTM.
- Phương pháp so sánh luật học: So sánh giữa giám sát ngân hàng và thanh tra ngân hàng; đối chiếu pháp luật Việt Nam với các nguyên tắc của Basel và kinh nghiệm một số quốc gia.
- Phương pháp dự báo: Đánh giá xu hướng phát triển thị trường và yêu cầu hội nhập quốc tế để xác định phương hướng hoàn thiện pháp luật.
- Phương pháp diễn dịch và quy nạp: Sử dụng trong lập luận, chứng minh các luận điểm khoa học và đề xuất giải pháp.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam: Hiến pháp, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), các Nghị định của Chính phủ, Thông tư của Ngân hàng Nhà nước (như Thông tư số 08/2017/TT-NHNN).
- Các chuẩn mực và tài liệu quốc tế: 25 Nguyên tắc cốt lõi của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng hiệu quả, tài liệu Basel I, Basel II, Basel III, báo cáo đánh giá BCP của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).
- Báo cáo thực tế, hồ sơ vụ án thực tiễn trong ngành ngân hàng Việt Nam (các sai phạm điển hình tại Ngân hàng TMCP Á Châu - ACB, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Vietinbank, Công ty Cho thuê tài chính II thuộc Agribank).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các tài liệu nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến giám sát hoạt động của NHTM theo 4 mảng: lý luận về NHTM và hoạt động NHTM; lý luận về giám sát ngân hàng; lý luận về pháp luật giám sát hoạt động NHTM; thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành. Tác giả phân tích những kết quả nghiên cứu đã đạt được, chỉ ra các vấn đề còn tranh cãi hoặc chưa được nghiên cứu sâu sắc, từ đó xác định rõ 3 câu hỏi nghiên cứu, 1 giả thuyết nghiên cứu và các cơ sở lý thuyết làm nền tảng cho luận án.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về giám sát hoạt động của ngân hàng thương mại và pháp luật giám sát hoạt động của ngân hàng thương mại
Chương này tập trung xây dựng hệ thống khái niệm và khung lý luận nền tảng:
- Khái niệm giám sát hoạt động NHTM: Được xem xét theo hai cấp độ. Theo nghĩa rộng, giám sát bao gồm toàn bộ hoạt động theo dõi, đánh giá của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc ban hành quy định, cấp phép, theo dõi hoạt động kinh doanh thường xuyên, tái cơ cấu, giải thể và xử lý phá sản. Theo nghĩa hẹp, đây là hoạt động theo dõi, xem xét, đánh giá của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chuyên ngành đối với việc thực hiện hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh liên quan của NHTM nhằm bảo đảm chấp hành pháp luật và giữ vững an toàn hệ thống.
- NHTM và hoạt động của NHTM - Đối tượng và khách thể giám sát: Luận án làm rõ NHTM là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng (nhận tiền gửi không kỳ hạn, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản) và các hoạt động kinh doanh khác vì mục tiêu lợi nhuận. Khách thể giám sát bao gồm các hoạt động tài sản nội bảng và ngoại bảng mang tính nghề nghiệp, tiềm ẩn rủi ro hệ thống.
- Các phương pháp và mô hình giám sát: Phân tích 3 phương pháp giám sát cơ bản gồm giám sát tuân thủ, giám sát CAMELS (Vốn, Chất lượng tài sản, Quản trị, Lợi nhuận, Thanh khoản, Độ nhạy cảm với rủi ro thị trường) và giám sát trên cơ sở rủi ro theo chuẩn mực Basel; so sánh các mô hình tổ chức cơ quan giám sát trên thế giới (mô hình thể chế, chức năng, lưỡng đỉnh và hợp nhất).
Chương 3: Thực trạng pháp luật về giám sát hoạt động của ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Chương 3 đi sâu mổ xẻ nội dung các quy định pháp luật thực định và thực tiễn thi hành tại Việt Nam qua 4 nhóm quy phạm:
- Quy định về chủ thể giám sát: Phân tích thẩm quyền, cơ cấu tổ chức của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng thuộc NHNN; đánh giá tính độc lập của cơ quan giám sát và sự phối hợp giữa NHNN với Bộ Tài chính, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia.
- Quy định về đối tượng và phạm vi giám sát: Đánh giá việc xác định phạm vi giám sát đối với các loại hình NHTM và các phân hệ nghiệp vụ theo Luật Các TCTD năm 2010.
- Quy định về nội dung, hình thức và phương pháp giám sát: Đánh giá việc kết hợp giữa giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ; chỉ ra thực trạng cơ chế giám sát ở Việt Nam còn nặng về kiểm tra tính tuân thủ pháp luật kỹ thuật, việc chuyển sang giám sát trên cơ sở rủi ro theo Basel II còn chậm và gặp nhiều rào cản dữ liệu.
- Quy định về trình tự, thủ tục giám sát và xử lý vi phạm: Đánh giá quy trình thu thập thông tin, chế độ báo cáo theo Thông tư 08/2017/TT-NHNN, cơ chế cảnh báo sớm và hiệu lực của các biện pháp xử lý vi phạm; dẫn chứng các sai phạm thực tiễn từ các vụ án lớn để chỉ ra lỗ hổng trong phát hiện và ngăn chặn rủi ro từ sớm.
Chương 4: Yêu cầu, phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về giám sát hoạt động của ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Chương 4 xác định tính tất yếu khách quan, các yêu cầu và phương hướng hoàn thiện pháp luật gắn với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và áp dụng chuẩn mực Basel II, Basel III; đồng thời đề xuất hai nhóm giải pháp:
- Nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật NHNN năm 2010, Luật Các TCTD năm 2010;
- Hoàn thiện khung pháp lý về an toàn hoạt động ngân hàng, tiêu chuẩn vốn và giới hạn cấp tín dụng;
- Phân định rõ ràng thẩm quyền, chức năng và nâng cao tính độc lập của cơ quan giám sát ngân hàng;
- Thể chế hóa đầy đủ các quy định về phương pháp giám sát trên cơ sở rủi ro, quy trình cảnh báo sớm và các biện pháp xử lý, can thiệp sớm.
- Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật:
- Kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp của đội ngũ giám sát viên;
- Hiện đại hóa kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu giám sát tập trung và tin cậy;
- Tăng cường cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin giữa các cơ quan giám sát tài chính trong nước và mở rộng hợp tác giám sát quốc tế.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về giám sát hoạt động NHTM và pháp luật giám sát hoạt động NHTM dưới góc độ khoa học luật kinh tế.
- Làm rõ nội hàm khái niệm giám sát hoạt động NHTM, phân định rõ ràng giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp; phân biệt ranh giới và mối quan hệ phối hợp giữa hoạt động giám sát ngân hàng và thanh tra ngân hàng.
- Luận giải một cách có hệ thống các yếu tố cấu thành của pháp luật giám sát hoạt động NHTM (chủ thể, đối tượng, phạm vi, phương pháp, quy trình và chế tài) trong mối tương quan với các chuẩn mực an toàn quốc tế (Basel I, Basel II, Basel III).
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về giám sát hoạt động NHTM; chỉ ra những điểm còn chồng chéo, bất cập và các khoảng trống pháp lý.
- Nhận diện những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành pháp luật, làm rõ nguyên nhân của những tồn tại trong công tác giám sát dẫn đến việc phát hiện chậm và xử lý chưa kịp thời các rủi ro, sai phạm tại một số NHTM thời gian qua.
- Đề xuất các phương hướng, yêu cầu và hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật, giải pháp tổ chức thi hành nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án chỉ giới hạn nghiên cứu đối với hoạt động giám sát mang tính quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện đối với hoạt động chuyên môn của NHTM. Công trình không nghiên cứu sâu các cơ chế giám sát nội bộ của NHTM, giám sát của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi, giám sát của cộng đồng, cũng như không đi sâu vào pháp luật điều chỉnh quyền giám sát của đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các NHTM có vốn nhà nước.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu mở rộng về khung pháp lý điều chỉnh mô hình cơ quan giám sát tài chính hợp nhất tại Việt Nam trong dài hạn; nghiên cứu cơ chế phối hợp giám sát các tập đoàn tài chính đa quốc gia và giám sát ngân hàng xuyên biên giới khi mức độ hội nhập tài chính quốc tế ngày càng sâu sắc.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước và lập pháp: Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Các tổ chức tín dụng và ban hành các văn bản hướng dẫn về an toàn hoạt động ngân hàng.
- Đối với cơ quan thanh tra, giám sát chuyên ngành: Là tài liệu tham khảo cho Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng trong việc đổi mới phương pháp giám sát từ xa, áp dụng phương pháp giám sát trên cơ sở rủi ro và hoàn thiện hệ thống chỉ số cảnh báo sớm.
- Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học: Làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy và học tập cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân hàng, Quản lý kinh tế và Tài chính - Ngân hàng.
- Đối với các ngân hàng thương mại: Giúp các nhà quản trị, bộ phận kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro tại các NHTM nắm vững các yêu cầu pháp lý và chuẩn mực giám sát để bảo đảm tuân thủ và nâng cao tính an toàn trong hoạt động kinh doanh.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa thế nào về giám sát hoạt động của ngân hàng thương mại?
Theo tác giả luận án, giám sát hoạt động của NHTM được hiểu là hoạt động theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động và áp dụng các biện pháp cần thiết của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với NHTM nhằm kịp thời tác động để các NHTM chấp hành pháp luật, qua đó bảo đảm sự an toàn, hoạt động lành mạnh của từng NHTM và toàn bộ hệ thống NHTM.
2. Sự khác biệt giữa hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác của NHTM được xác định ra sao?
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ mang tính nghề nghiệp thường xuyên, gồm nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản (theo khoản 1 Điều 6 Luật NHNN năm 2010). Các hoạt động kinh doanh khác của NHTM bao gồm góp vốn, mua cổ phần, kinh doanh ngoại hối, tham gia thị trường tiền tệ, ủy thác, bảo hiểm và tư vấn tài chính theo quy định của pháp luật.
3. Ba phương pháp giám sát ngân hàng được luận án đề cập gồm những gì?
Luận án chỉ ra 3 phương pháp giám sát ngân hàng cơ bản:
- Phương pháp giám sát tuân thủ: Kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật và tỷ lệ an toàn kỹ thuật;
- Phương pháp giám sát CAMELS: Đánh giá 6 yếu tố gồm Vốn (C), Chất lượng tài sản (A), Quản trị (M), Lợi nhuận (E), Thanh khoản (L) và Độ nhạy cảm với rủi ro thị trường (S);
- Phương pháp giám sát dựa trên rủi ro: Tập trung đánh giá mức độ rủi ro tiềm ẩn và khả năng quản trị rủi ro của từng ngân hàng theo các chuẩn mực Basel.
4. Những nội dung nào bị loại trừ khỏi phạm vi nghiên cứu của luận án?
Luận án không nghiên cứu sâu:
- Hoạt động giám sát nội bộ của chính NHTM và giám sát của cộng đồng, người lao động;
- Hoạt động giám sát của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam;
- Thủ tục hành chính về cấp phép thành lập, tổ chức lại, giải thể, phá sản NHTM;
- Hoạt động giám sát của đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các NHTM nhà nước hoặc NHTM có vốn góp của Nhà nước.
Kết luận
Luận án tiến sĩ Pháp luật giám sát hoạt động của ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay của tác giả Nguyễn Đình Phúc là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế. Tác giả đã làm rõ các vấn đề lý luận về giám sát hoạt động NHTM, hệ thống hóa các chuẩn mực quốc tế của Basel và đánh giá có hệ thống thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam. Trên cơ sở đối chiếu giữa quy định và thực tiễn thi hành, luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp và thực thi nhằm nâng cao hiệu quả giám sát an toàn hệ thống NHTM tại Việt Nam.