Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Lý luận về chứng cứ 1. Khái niệm chứng cứ Để giải quyết vụ án hình sự, trong quá trình thực hiện các hoạt động tố tụng CQĐT, VKS và Tòa án khi giải quyết vụ án hình sự cần xác minh những sự việc có liên quan đến tội phạm đang được tiến hành xem xét, trong đó cần phải khẳng định được tội phạm đã xảy ra, xác định được người cụ thể đã thực hiện tội phạm và họ phải chịu trách nhiệm về hành vi đã thực hiện, tất cả các sự kiện và tình tiết của vụ án phải phù hợp với hiện thực khách quan. Để làm được điều đó, cơ quan tiến hành tố tụng chỉ có thể dựa vào chứng cứ.
Hay nói cách khác, chứng cứ là phương tiện duy nhất được cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng để chứng minh trong tố tụng hình sự. Hiện nay trong khoa học Luật tố tụng hình sự Việt Nam có một số quan điểm khác nhau về chứng cứ: Theo TS. Đỗ Văn Đương thì: Chứng cứ là những thông tin xác thực về những gì có thật liên quan đến hành vi phạm tội, được thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định mà những người và cơ quan tiến hành tố tụng dùng làm căn cứ để xác định sự thật khách quan của vụ án [7, tr. Giáo trình Luật tố tụng hình sự, trường Cao đẳng Kiểm sát cho rằng: Chứng cứ là những sự vật, hiện tượng, những dấu vết được CQĐT, VKS, Tòa án thu thập được trong quá trình điều tra, xét xử theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, để chứng minh 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có hay không có hành vi nguy hiểm cho xã hội, lỗi của người thực hiện hành vi ấy và những tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết đúng đắn vụ án [16, tr.
Trần Quang Tiệp cho rằng: Chứng cứ là những thông tin có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định mà CQĐT, VKS, Tòa án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội, cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án [24, tr. Tác giả không hoàn toàn đồng ý với quan điểm thứ nhất và quan điểm thứ hai bởi lẽ: quan điểm thứ nhất mặc dù hợp lý nhưng lại chưa nêu ra chủ thể - các cơ quan tiến hành thực hiện; quan điểm thứ hai lại quá chi tiết nhưng thiếu giai đoạn truy tố của cơ quan Viện kiểm sát thực hiện việc thu thập chứng cứ. Còn quan điểm thứ ba về cơ bản là hợp lý nhất vì nó bao quát cả các cơ quan tiến hành có trách nhiệm thực hiện việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ gắn liền với Luật tố tụng hình sự Việt Nam, đồng thời chỉ rõ những thuộc tính về nội dung và các đặc điểm về hình thức của chứng cứ để làm cơ sở cho việc chứng minh tội phạm và người phạm tội. Trên nền tảng của học thuyết duy vật biện chứng và kinh nghiệm trong quá trình đấu tranh chống tội phạm, tại khoản 1 Điều 64 BLTTHS năm 2003 đưa ra định nghĩa lập pháp của khái niệm chứng cứ như sau: Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà CQĐT, VKS và Tòa án dùng làm ăn cứ để xác định có hay không hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án [12; tr.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Định nghĩa này về chứng cứ mang tính khái quát cao, tuân theo các quy luật khách quan của quá trình nhận thức, đưa ra những thuộc tính về nội dung cũng như những đặc điểm về hình thức của chứng cứ làm cơ sở cho việc chứng minh tội phạm. Thuộc tính của chứng cứ Chứng cứ là những sự vật, hiện tượng có thật và thống nhất không thể tách rời, vì vậy xem xét từng thuộc tính của chứng cứ phải trong mối quan hệ với các thuộc tính khác và trong mối quan hệ tổng thể. Tính khách quan Đây là thuộc tính quan trọng hàng đầu của chứng cứ. Chứng cứ là những gì có thật, có nghĩa rằng chứng cứ là những thông tin có thật từ tài liệu, vật chứng tồn tại khách quan, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người và những chứng cứ đó liên quan trực tiếp đến các tình tiết của vụ án đang được chứng minh.
Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng chỉ phát hiện, thu thập, nghiên cứu chứng cứ chứ không tạo ra chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án. Tại Điều 66 của BLTTHS, tính khách quan của chứng cứ còn được gọi là tính xác thực của chứng cứ. Trong quy định tại khoản 2 Điều 64 BLTTHS năm 2003 có quy định một trong các nguồn chứng cứ là lời khai của người tham gia tố tụng. Theo một số quan điểm cho rằng việc lấy chứng cứ là lời khai của người tham gia tố tụng dù ít hay nhiều đều bị ảnh hưởng bởi những yếu tố chủ quan, ý chí của người khai báo mà không thể phản ánh một cách khách quan hoàn toàn những thông tin về tội phạm.
Chính vì vậy, những thông tin này không đảm bảo thuộc tính khách quan của chứng cứ. Tuy vậy, về bản chất, việc cung cấp thông tin là khách quan và trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, vì vậy các cơ quan này đồng thời cũng phải có trách nhiệm xác minh, đánh giá để xác định thông tin đó có chính xác hay không, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com so sánh thông tin này với thông tin thu được từ các nguồn khác. Mọi thông tin, sự thật thu thập được dù tồn tại trên thực tế nhưng bị xuyên tạc, bóp méo hay bị làm giả theo ý chí chủ quan thì không còn mang tính khách quan. Và những tài liệu đó cũng không thể là chứng cứ của vụ án [5, tr.
Tính liên quan “Tính liên quan của chứng cứ được thể hiện ở mối liên hệ khách quan của cá thông tin, tài liệu với các tình tiết của vụ án cần được xác định. Mối quan hệ này có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp” [7, tr. Mối quan hệ trực tiếp ở đây được hiểu là việc chứng cứ được dùng làm căn cứ để giải quyết thực chất của vụ án, đó là những căn cứ quan trọng và chủ yếu để xác định hành vi phạm tội, người phạm tội, lỗi của người phạm tội, các tình tiết có ý nghĩa quan trọng đối với việc quyết định hình phạt… Mối quan hệ gián tiếp là trong trường hợp thông tin, tài liệu đó không thể làm căn cứ để giải quyết thực chất vụ án nhưng lại đóng góp một phần nhất định vào việc chứng minh tội phạm. Chẳng hạn lời khai của người làm chứng rằng vào thời điểm tội phạm xảy ra đã chứng kiến sự có mặt của người bị tạm giữ.
Như vậy, dù việc nhìn thấy sự có mặt của người bị tạm giữ không có ý nghĩa trong việc quyết định liệu rằng người bị tạm giữ có phải là người phạm tội hay không nhưng lại đóng vai trò quan trọng với CQĐT trong việc lập phương án điều tra làm sáng tỏ sự việc. Trong hoạt động tố tụng, CQĐT cũng như VKS, Tòa án phải xem xét về tính liên quan của chứng cứ ở cả hai mối quan hệ này để xác định một thông tin, đồ vật hay tài liệu có được coi là chứng cứ hay không [7, tr. Tính hợp pháp Đó là sự phù hợp với các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về chứng cứ. Tính hợp pháp của chứng cứ được thể hiện qua quá trình cung cấp, thu thập, nghiên cứu, bảo quản theo trình tự của pháp luật quy định.
Nó được thể hiện ở các mặt sau: 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Chứng cứ được xác định bằng nguồn nhất định theo quy định của pháp luật. BLTTHS năm 2003 quy định nguồn chứng cứ bao gồm: (i) Vật chứng; (ii) Lời khai của người tham gia tố tụng; (iii) Kết luận giám định; (iv) Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác [12, tr.55] Các nguồn này phải được lưu giữ bằng nguồn tương ứng xác định. - Chứng cứ phải được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định. Tùy thuộc vào tính chất đặc điểm của chứng cứ mà BLTTHS quy định trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ nhằm đảm bảo được tính khách quan và giá trị chứng minh của chứng cứ.
Trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử có không ít các trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng thu giữ, đồ vật, tài liệu không đúng thủ tục rồi sau đó mới tiến hành hợp pháp hóa các tài liệu đó rồi đưa vào hồ sơ vụ án hoặc thu thập lời khai bằng cách đe dọa, đánh đập, mớm cung… [5, tr. Điều này dẫn đến các thông tin thu thập được bị thiếu tính hợp pháp, không có giá trị chứng minh trong tố tụng hình sự và đôi khi dẫn đến các trường hợp án oan, xác định sai tội phạm, người phạm tội. Tóm lại, tính khách quan, liên quan và tính hợp pháp là các thuộc tính quan trọng của chứng cứ, giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và cũng độc lập với nhau trong việc thể hiện các khía cạnh của chứng cứ. Khi xem xét bất cứ vật chứng, tài liệu gì để sử dụng làm chứng cứ cho vụ án thì cũng cần phải xem xét đầy đủ ba thuộc tính này, nếu thiếu đi bất kỳ thuộc tính nào thì thông tin được thu thập không phải là chứng cứ.
Quá trình chứng minh vụ án hình sự Quá trình chứng minh diễn ra theo một trật tự tố tụng nhất định bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, cụ thể: 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Thu thập chứng cứ Thu thập chứng cứ là hoạt động đầu tiên của quá trình chứng minh trong vụ án hình sự. Hoạt động này có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với toàn bộ quá trình chứng minh.