Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẢI CÁCH TƢ PHÁP VÀ BẢO VỆ CÔNG LÝ 1. Quan niệm “công lý” trong nền khoa học pháp lý thế giới Công lý là những giá trị về công bằng, lẽ phải, phù hợp với lợi ích chung, với đạo lý được xã hội và pháp luật thừa nhận. Trong lịch sử, không phải không có những quan niệm khác nhau về công lý. Người phương Tây quan niệm công lý trước hết là một phạm trù đạo đức: Đó là thái độ, cách ứng xử tôn trọng chân lý và tự do của người khác.
Thái độ này có nguồn gốc bẩm sinh của mỗi người. Bất công, nếu có chỉ được chấp nhận khi muốn tránh một bất công khác lớn hơn. Dưới góc độ pháp luật, công lý là sự công bằng, bình đẳng, là nền tảng của xã hội dân sự. Giáo sư Jonh Rawls của Đại học Havard, Hoa Kỳ trong cuốn sách nổi tiếng Luận thuyết về Công lý (A Theory of Justice) xuất bản năm 1971 cho rằng: “Công lý là đức hạnh thứ nhất cho các định chế xã hội cũng như chân lý là của các hệ thống tư tưởng.
Một lý thuyết dù có lộng lẫy đến đâu nhưng nó sai thì phải bị bác bỏ cũng như luật pháp và định chế có hoàn chỉnh đến đâu cũng cần phải bị dẹp bỏ nếu nó là bất công [38]. Rawls gọi lý thuyết của mình là lí thuyết công lý như công bằng (Theory of justice as fairness). Câu hỏi công lý là gì được ông định nghĩa ngắn gọn trong mệnh đề “justice as fairess”. Ông đã đã chỉ ra vai trò của công lý, đến đối tượng của công lý, đến ý tưởng chính của Lí thuyết về công lý, đến Vị thế khởi thủy, đến sự đối lập với Chủ nghĩa Vị lợi cổ điển cùng một vài quan niệm đối lập khác.
Ông đã chỉ rõ: Không thể có công lý khi tự do của nhóm cá nhân bị hy sinh để đem lai lợi ích cho một tập thể lớn hơn. Công lý không cho phép vì lợi ích của nhiều người, bắt vài người phải hy sinh. Do vậy trong một xã hội công bằng thì sự bình đẳng về các quyền công dân và các quyền tự do đối với tất cả mọi người là bất di bất dịch; những quyền được công lý đảm bảo thì không thể đem ra mặc cả về chính trị hay những tính toán về lợi ích xã hội [38]. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong truyền thống người châu Phi và châu Á cũng có những quan niệm khác nhau về công lý.
Nếu người châu Phi coi công lý là sự xử sự phù hợp với truyền thống, tập quán của tiền nhân thì người Ấn Độ cổ đại coi công lý là sự tôn trọng và chấp nhận đẳng cấp trong xã hội. Những người theo Cơ đốc giáo thì cho rằng công lý là sự công bằng, sự liêm khiết, sự phán quyết khách quan, công minh phù hợp với pháp luật và cao hơn tất cả là phù hợp với lề luật thiên chúa và luật tự nhiên. Các quan niệm trên đều đã tiếp cận một, một vài khía cạnh của công lý. Tuy nhiên, cái mà người ta quan tâm đó chính là nguồn gốc của công lý, là giải quyết câu hỏi tại sao trong mỗi thời kỳ lịch sử, trong mỗi xã hội khác nhau người ta có quan niệm không giống nhau về công lý? Nói cách khác, nếu công lý là công bằng, là lẽ phải thì thế nào là công bằng, và lẽ phải lại có những quan niệm khác nhau? Để giải quyết mâu thuẫn này trước hết phải khẳng định công lý là phạm trù lịch sử tự nhiên.
Nó không phải là sản phẩm của thế lực siêu nhiên thần bí, không phải là một thứ có sẵn nằm ở đâu đó trong tự nhiên. Một trong những nguồn gốc hiện thực của quan niệm về công lý trước hết là vấn đề lợi ích. Mỗi nhóm xã hội có lợi ích khác nhau thì có những quan niệm tương ứng về công lý. Lợi ích bao gồm lợi ích chung và lợi ích riêng.
Tuy nhiên, công lý đích thực với tư cách là giá trị phổ quát được xây dựng trên cơ sở những lợi ích chung nhưng cũng không thể bỏ qua việc thừa nhận và tôn trọng những lợi ích riêng của những kẻ yếu thế hơn trong xã hội bởi Công lý bùng nổ để bảo vệ kẻ yếu. Cách đây hàng nghìn năm Bộ luật Hammurabi của người Hồi giáo đã viết như vậy. Từ góc độ lịch sử, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra các phân đoạn phát triển của công lý. Theo đó, công lý trong giai đoạn thứ nhất của xã hội sơ khai được thể hiện khá rõ nét bằng sự trả thù cá nhân, bằng luật báo thù, dĩ oán báo oán.
Công lý đã luôn được coi là vấn đề cốt tử trong tâm thức của các nhà làm luật từ thời cổ đại. Trong bộ luật Hammurabi của nhà nước lưỡng hà được ban hành trong khoảng thời gian từ năm 1792 đến năm 1750.TCN, công lý được được hiểu là yêu cầu áp dụng hình phạt ngang bằng với thiệt hại mà kẻ phạm tội gây ra, đó chính là nguyên tắc báo thù Talion (mắt đền mắt, răng đền răng). Theo đánh giá, đây là một bộ luật mà 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nguyên tắc Talion được áp dụng một cách triệt để, tàn khốc và cứng nhắc một cách cực đoan. Ví dụ một người thợ xây làm chết con của chủ nhà thì con của người thợ xây phải bị giết theo nguyên tắc báo thù Talion [30].
Giai đoạn thứ hai của sự phát triển nhận thức về công lý là thay sự báo thù bằng bồi thường, phạt vạ, để nhằm giữ yên ổn, hoà hảo trong nội bộ các bộ tộc, bộ lạc. Một ví dụ sinh động về cách phạt vạ khá cẩn thận, tỉ mỉ của người Abysinie trong giai đoạn này như sau: “Nếu một đứa nhỏ trên cây té xuống đúng vào một đứa bạn của nó, làm cho đứa này chết thì mẹ của đứa chết có quyền sai một đứa khác leo lên cây rồi buông tay cho rớt xuống đúng đầu đứa phạm tội”. Đến giai đoạn thứ ba, để ngăn chặn các cuộc trả thù cá nhân, toà án đã được thành lập để thẩm định, đánh giá các mức độ thiệt hại, từ đó hoà giải, điều đình, phân xử các xung đột giữa các cá nhân trong xã hội. Công lý và tư pháp xét xử đã vững bước song hành từ những bước phát triển của lịch sử văn minh nhân loại như vậy [42].
Trong nền văn minh Hy Lạp cổ đại - cái nôi của văn minh phương Tây, công lý được cho rằng bắt nguồn từ trật tự xã hội, một xã hội ổn định, có trật tự sẽ thúc đẩy sự phát triển của công lý và ngược lại, một nền công lý mạnh mẽ sẽ thúc đẩy một xã hội trật tự, ổn định. Theo Plato, công lý là một khái niệm thể hiện phẩm hạnh và sự hài hòa của cộng đồng, là kết quả của sự đồng tâm hợp tác giữa những cá nhân có đức hạnh tham gia giải quyết các vấn đề của cộng đồng và quốc gia. Công lý liên quan trực tiếp đến sự tiết chế và khả năng tự kiểm soát của mỗi cá nhân. Công lý là một vấn đề giản dị nếu con người cũng giản dị, rời xa lòng tham lam và sự xa hoa và sống theo đúng chức phận của mình.
Công lý xuất phát từ sự hài hoà và nó hướng tới những người khác thông qua những hành vi nhân hậu và tử tế [43]. Bộ luật Conpus Juris Civilis là bộ luật dân sự được hệ thống hóa theo lệnh của Hoàng đế Justinian (khoảng 482- 565). Công lý ở đó được định nghĩa như là “ước muốn liên tục và vĩnh viễn ban cho mọi người những gì mà họ xứng đáng” và “những châm ngôn của luật pháp” được diễn đạt là “sống lương thiện, không làm hại người khác, và công bằng với mọi người”. Những diễn đạt này, dù khá tổng quát, nhưng cũng chứa đựng ít nhất ba đặc điểm quan trọng có phần trùng lặp của 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bất cứ quan niệm nào về công lý.
Nó truyền đạt, thứ nhất, ý tưởng về sự quan trọng của cá nhân, thứ hai, rằng các cá nhân phải được đối xử một cách thích đáng và không thiên vị; và thứ ba, một cách bình đẳng [41]. Còn theo Aristotle, một trong những người thầy có ảnh hưởng nhất đối với bộ môn triết học chính trị, thì công lý cốt ở việc đối xử bình đẳng với những người ngang nhau và bất bình đẳng với những người không ngang hàng, tương xứng với sự khác nhau về địa vị của họ. Theo ông, công lý được chia thành “công lý cải tạo” - “công lý phân phối” - cách thức, nỗ lực cố gắng để công bằng với mỗi người, đúng theo những gì mà người đó xứng đáng. Theo Aristotle, công lý phân phối chính là mối quan tâm chủ yếu, hàng đầu của các nhà lập pháp.
Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng luật pháp và công lý là hai khái niệm không hoàn toàn đồng nhất, thậm chí, trong một số xã hội, luật pháp đôi khi đi chệch hướng hoặc đối nghịch với công lý [41]. Trong tác phẩm Nicomachean Ethics, ông đã viết: Công lý chỉ tồn tại giữa con người, khi các quan hệ của họ được điều chỉnh bằng pháp luật, giữa con người thường xuất hiện những bất công, nên họ hành xử với thường theo sự bất công, việc áp dụng pháp luật sẽ giúp con người phân biệt được giữa bất công và công lý… Đây là lý do tại sao chúng ta không thể cho phép nhân trị, mà pháp trị. Bởi vì với nhân trị sẽ phục vụ lợi ích cá nhân và người sẽ trở thành độc tài…[17, tr. Trong truyền thống pháp luật tự nhiên, công lý được hiểu là yêu cầu, đòi hỏi mỗi cá nhân hoặc nhóm được hưởng những gì mà họ xứng đáng.
Công lý là quyền mà tạo hoá ban cho con người. Đây là khái niệm mang tính tổng quát và tuyệt đối, các quy định luật pháp, các nguyên tắc, luật lệ, quy tắc chỉ là những cố gắng nhằm hệ thống, hiện thực và cụ thể hoá khái niệm này. Công lý chỉ có thể giành được thông qua chế độ pháp quyền chứ không phải thông qua sự cai trị của con người. Không có công lý thì sẽ không có những đạo luật khách quan và hệ quả là các cá nhân sẽ lệ thuộc vào kẻ cai trị.
Chế độ pháp quyền ở đây được hiểu là nhà nước phải bị chế ước bởi những quy định đã được ấn định trước hoặc được đoán định trước và mọi người đều bị quản lý bởi cùng các đạo luật. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.