Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI 1. Nhận thức chung về quyền con người 1. Khái niệm về quyền con người Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, từ trước đến nay đã có rất nhiều định nghĩa về quyền con người được công bố, mỗi định nghĩa lại tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định của quyền con người. Theo tài liệu Hỏi Đáp về Nhân quyền của Liên hợp quốc (United Nations: Human rights: Questions and Answers) thì có đến gần 50 định nghĩa về quyền con người đã được công bố.
Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc đưa ra khái niệm: Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người [25, tr. Một định nghĩa khác cũng thường được trích dẫn là “Quyền con người là những sự được phép mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội… đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người” [23, tr. Tại hai văn kiện nổi tiếng thế giới là Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền của Pháp năm 1978, khái niệm về quyền con người được thể hiện một cách rất cụ thể: “Những chân lý sau đây đã được chúng tôi công nhận như những sự thật hiển nhiên là tất cả mọi người sinh ra đều bình 7 z đẳng; tạo hóa đã cho họ các quyền không thể thay thế được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc” [24, tr. Ở Việt Nam, qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy chưa có một văn bản pháp lý nào quy định về quyền con người như một định nghĩa, một điều luật chuyên biệt.
Nội hàm của khái niệm quyền con người chỉ được thể hiện trong các quan điểm, chính sách, pháp luật và cũng chỉ được quy định một cách chung chung mà không đưa ra một định nghĩa rõ ràng, riêng biệt. Theo cuốn Đại Từ điển Tiếng Việt thì quyền con người được hiểu là “điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi” [1, tr. Hiến pháp năm năm 2013 quy định: 1. Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.
Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng [41, Điều 14]. Trên phương diện nghiên cứu khoa học pháp lý, Giáo trình Lý luận và pháp luật về Quyền con người của Khoa Luật Đại Học Quốc gia Hà Nội, thì quyền con người là “những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” [23, tr.38] Tại buổi quán triệt Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa XI) của Đảng ủy TANDTC ngày 26/02/2014 khi nói về những điểm mới về quyền con người, quyền công dân được quy định trong Hiến pháp năm 2013, PGS.TS Trần Văn Độ - Chánh án Tòa án Quân sự Trung ương, Phó Chánh án TANDTC cho rằng: “quyền con người là quyền của cá nhân mà khi sinh ra vốn dĩ là đã có, 8 z còn quyền công dân là quyền được quy định cụ thể trong Hiến pháp và pháp luật của nhà nước nó gắn liền với quốc tịch của mỗi công dân” [65]. Chúng tôi cũng đồng quan điểm với PGS.TS Trần Văn Độ về quan niệm về quyền con người nêu trên. Bởi vì, đây là khái niệm khái quát dễ hiểu và cơ bản nhất về quyền con người.
Nó phù hợp với học thuyết về quyền tự nhiên (natural rights) cho rằng quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng, không phân biệt đẳng cấp, màu da, giới tính, dân tộc hay tôn giáo. Các thuộc tính cơ bản của quyền con người - Tính phổ biến: Tính phổ biến thể hiện ở chỗ quyền con người được áp dụng chung cho tất cả mọi người, không phân biệt màu da, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân. Con người, dù ở những chế độ xã hội riêng biệt, thuộc những truyền thống văn hóa khác nhau vẫn hưởng những quyền và sự tự do cơ bản của con người. - Tính đặc thù: Thuộc tính này được hiểu là mọi người đều được hưởng quyền con người nhưng mức độ thụ hưởng có sự khác biệt, phụ thuộc vào năng lực cá nhân của từng người, hoàn cảnh chính trị, truyền thống văn hóa xã hội mà người đó đang sống.
Ở mỗi vùng, mỗi quốc gia khác nhau, vấn đề quyền con người mang những sắc thái, đặc trưng riêng gắn liền với trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực đó. - Tính không thể bị tước bỏ: Quyền con người không thể tùy tiện bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức nhà nước, chỉ trong một số trường hợp nhất định được pháp luật quy định trước và phải là những chủ thể đặc biệt mới có thể hạn chế hay tước bỏ quyền con người. 9 z - Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quyền: Tất cả các quyền con người đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, việc thực hiện tốt quyền này sẽ là tiền đề để thực hiện quyền kia. Ngược lại, khi có một quyền bị xâm phạm thì sẽ ảnh hưởng đến các quyền khác.
Phân loại quyền con người Cách phân loại cơ bản và chủ yếu nhất đó là phân loại quyền con người theo lĩnh vực. Theo đó, quyền con người được phân thành hai nhóm chính: - Nhóm các quyền dân sự - chính trị bao gồm: quyền bầu cử, ứng cử; quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội; các quyền tự do cơ bản; quyền được bảo đảm an ninh cá nhân; quyền bình đẳng;… - Nhóm quyền kinh tế - xã hội - văn hóa bao gồm: quyền làm việc, quyền sở hữu, quyền kinh doanh, quyền được bảo vệ sức khỏe, quyền được học tập và sáng tạo; quyền hoạt động văn hóa - nghệ thuật… Ngoài ra, quyền con người có thể được phân chia theo chủ thể của quyền. Có thể chia quyền con người ra thành quyền cá nhân; quyền của nhóm như quyền của phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi… và quyền tập thể như quyền dân tộc tự quyết và quyền của các dân tộc thiểu số. Khái quát chung về các cơ chế bảo vệ quyền con người 1.
Khái niệm về cơ chế bảo vệ quyền con người Khái niệm cơ chế được nêu trong cuốn Đại từ điển Tiếng Việt là cách thức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện [1, tr. Do các quyền con người rất phong phú và những vi phạm xâm phạm đến quyền con người cũng rất đa dạng, được thực hiện bởi nhiều loại chủ thể trên nhiều lĩnh vực khác nhau nên việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều dạng chủ thể (cá nhân, cộng đồng, tổ chức phi chính phủ, cơ quan nhà nước, tổ chức quốc tế…) thông qua nhiều biện pháp; từ phổ biến, giáo dục, nâng cao nhận thức cho đến theo dõi, giám sát, và xử lý những 10 z hành vi xâm phạm đến quyền con người. Tập hợp các cách thức nêu trên để bảo vệ quyền con người được gọi chung là cơ chế bảo vệ quyền con người. Như vậy, theo chúng tôi, cơ chế bảo vệ quyền con người là tổng hợp các biện pháp do các chủ thể khác nhau thực hiện nhằm mục đích bảo vệ các quyền con người, đảm bảo các quyền con người được thực hiện trên thực tế và thúc đẩy sự tôn trọng của các chủ thể đối với quyền con người trong phạm vi không gian nhất định, thời gian và mức độ khác nhau.
Các cơ chế bảo vệ quyền con người * Cơ chế quốc tế trong việc bảo vệ quyền con người Về cơ bản, cơ chế quốc tế về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người được thể hiện ở bộ máy các cơ quan và quy tắc, thủ tục về thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trong tổ chức Liên hợp quốc. Dựa trên địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy mà các cơ quan về quyền con người của Liên hợp quốc được chia thành hai dạng: dạng các cơ quan được thành lập dựa trên cơ sở Hiến chương (charter - based mechanism) và dạng các cơ quan được thành lập dựa trên cơ sở một số Công ước quan trọng về quyền con người (treaty bodies). Cơ chế dựa trên Hiến chương (Charter - based mechanism) là việc 6 cơ quan chính (gồm: Đại hội đồng - General essembly; Hội đồng bảo an - Security council, Hội đồng kinh tế và xã hội - Economic and social council Ecosoc; Hội đồng quản thác - Trusteeship council; Tòa án Công lý quốc tế - Intemetional court of justice; Ban thư ký Liên hợp quốc) thực hiện các chức năng, nhiệm vụ liên quan đến quyền con người của các cơ quan này, thông qua đó để nghiên cứu, xây dựng các dự thảo văn kiện, thẩm định, theo dõi, giám sát và điều hành các chương trình, hoạt động về quyền con người. Cơ chế dựa trên Công ước (Treaty -based mechanism): Cơ chế này được dựa trên các ủy ban giám sát việc thực hiện một số công ước quốc tế 11 z về quyền con người (treaty-based bodies), được thành lập theo quy định của chính các công ước đó (ngoại trừ Uỷ ban về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá được thành lập theo một Nghị quyết của Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên Hiệp Quốc - ECOSOC), nhằm giám sát, thúc đẩy việc thực hiện các công ước về quyền con người, thông qua việc nhận, xem xét và ra khuyến nghị liên quan đến các báo cáo về việc thực hiện các công ước này của các nước thành viên [23, tr.