Tổng quan nghiên cứu

Thực tiễn quản lý xã hội tại Việt Nam ghi nhận khoảng 9.436 trường hợp nuôi con nuôi thực tế phát sinh trong nhân dân, cùng mạng lưới hợp tác quốc tế được thiết lập thông qua hiệp định song phương với 14 quốc gia. Sự phát triển kinh tế - xã hội đã kéo theo những biến đổi lớn trong đời sống gia đình, làm gia tăng tỷ lệ vô sinh và hiếm muộn ở mức khoảng 7,7% đến 10% tại các đô thị lớn, đồng thời nhu cầu nhận con nuôi của người độc thân ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, tình trạng vi phạm quyền trẻ em như bóc lột sức lao động, mang thai hộ thương mại trái phép, mua bán trẻ em hoặc xâm hại trẻ em vẫn tiềm ẩn nhiều diễn biến phức tạp. Luận văn tập trung nghiên cứu toàn diện chế định nuôi con nuôi theo pháp luật Việt Nam, làm sáng tỏ bản chất pháp lý, các nguyên tắc nhân đạo và thực trạng thi hành pháp luật. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là đánh giá hệ thống quy phạm pháp luật từ thời kỳ phong kiến đến Luật Nuôi con nuôi năm 2010, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Bộ luật Dân sự năm 2015; phân tích thực tiễn áp dụng và chỉ ra các rào cản hành chính. Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian lãnh thổ Việt Nam và quan hệ hợp tác quốc tế, với tiến trình lịch sử lập pháp từ năm 1483 đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa sâu sắc khi hướng tới mục tiêu nâng cao tỷ lệ giải quyết hợp pháp hóa con nuôi thực tế (vốn mới đạt mức 45% trên 7.399 trường hợp đủ điều kiện), hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia và bảo đảm 100% quyền trẻ em được sống trong môi trường gia đình an toàn theo chuẩn mực quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết quyền con người và quyền trẻ em được khẳng định trong Tuyên bố Liên Hợp Quốc năm 1986 và Công ước La Hay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế. Trọng tâm lý thuyết là nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, tôn trọng quyền được sống trong môi trường gia đình gốc và coi nuôi con nuôi quốc tế là giải pháp thay thế cuối cùng. Bên cạnh đó, tác giả áp dụng lý thuyết quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình để phân tích sự chuyển hóa từ quan hệ huyết thống tự nhiên sang quan hệ phụ dưỡng pháp lý.

Khung nghiên cứu vận dụng 5 khái niệm nòng cốt:

Thứ nhất, chế định nuôi con nuôi là hệ thống quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh việc xác lập, thực hiện, thay đổi và chấm dứt quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi.

Thứ hai, sự kiện pháp lý nuôi con nuôi là hành vi pháp lý có điều kiện làm phát sinh quan hệ cha mẹ và con hợp pháp trên cơ sở sự đồng thuận tự nguyện của các bên và sự công nhận của cơ quan Nhà nước.

Thứ ba, nuôi con nuôi thực tế là quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng đã tồn tại đầy đủ nghĩa vụ cha mẹ và con trên thực tế nhưng chưa đăng ký tại cơ quan hộ tịch có thẩm quyền.

Thứ tư, nuôi con nuôi danh nghĩa là việc nhận cha mẹ hoặc con nuôi thuần túy dựa trên tình cảm đạo đức xã hội mà không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý ràng buộc.

Thứ năm, phân định hình thức nuôi con nuôi đơn giản (giữ nguyên quyền thừa kế và nhân thân với gia đình gốc) và nuôi con nuôi đầy đủ (chấm dứt toàn bộ quyền, nghĩa vụ với cha mẹ đẻ).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật xuyên suốt lịch sử: Quốc triều Hình luật năm 1483, Hoàng Việt Luật lệ năm 1811, các bộ Dân luật thời Pháp thuộc, hệ thống Luật Hôn nhân và Gia đình các năm 1959, 1986, 2000, 2014, Luật Nuôi con nuôi năm 2010 cùng các Nghị định số 19/2011/NĐ-CP và Nghị định số 24/2019/NĐ-CP. Dữ liệu thực tiễn được khai thác từ báo cáo chính thức của Cục Con nuôi - Bộ Tư pháp với cỡ mẫu khảo sát toàn diện 9.436 trường hợp nuôi con nuôi thực tế trên phạm vi 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong giai đoạn 10 năm từ 2010 đến 2020.

Phương pháp chọn mẫu: Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu tổng thể dựa trên toàn bộ cơ sở dữ liệu rà soát quốc gia theo Điều 50 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, bảo đảm tính phổ quát, không bỏ sót và phản ánh chân thực bức tranh nuôi con nuôi tại Việt Nam.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Tác giả kết hợp phương pháp luật học so sánh, phân tích quy phạm và tổng hợp lịch sử để làm rõ tiến trình hoàn thiện thể chế. Phương pháp thống kê mô tả được lựa chọn nhằm định lượng hóa tỷ lệ đăng ký thành công, nhận diện chính xác các nút thắt hành chính và đo lường khoảng trống pháp luật, từ đó bảo đảm luận cứ khoa học vững chắc cho các kiến nghị lập pháp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kết quả tổng rà soát ghi nhận toàn quốc có 9.436 trường hợp nuôi con nuôi thực tế, trong đó có 7.399 trường hợp đáp ứng đủ điều kiện theo luật định (chiếm 78,4% tổng số). Tuy nhiên, trong thời hạn 5 năm thực hiện đăng ký theo quy định, mới chỉ có 3.334 trường hợp hoàn tất thủ tục đăng ký hợp pháp, đạt tỷ lệ khiêm tốn 45% trên tổng số trường hợp đủ điều kiện.

Thứ hai, số lượng hồ sơ tồn đọng chưa được công nhận còn rất lớn với 4.605 trường hợp. Trong đó, có 1.884 trường hợp người dân từ chối đăng ký vì muốn bảo mật thông tin thân phận con nuôi (chiếm 46% số trường hợp chưa đăng ký); 1.549 trường hợp không thể hoàn thiện hồ sơ do thiếu giấy tờ gốc hoặc do cả hai bên đã cao tuổi (chiếm 20% nhóm đủ điều kiện).

Thứ ba, nghiên cứu phát hiện sự bất cập trong quy định cứng nhắc về khoảng cách tuổi tác. Có 84 trường hợp bị từ chối công nhận do không đáp ứng khoảng cách chênh lệch từ 20 tuổi trở lên giữa người nhận nuôi và con nuôi theo Điều 14 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, mặc dù họ là người thân thích và đã thực tế chăm sóc trẻ ổn định nhiều năm; ngoài ra có 417 trường hợp cha mẹ nuôi hoặc con nuôi đã qua đời trước khi kịp thực hiện thủ tục.

Thứ tư, công tác nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đã đạt bước tiến lớn với 14 hiệp định song phương, nhưng thủ tục xác minh nguồn gốc trẻ em bị bỏ rơi còn rườm rà, kéo dài thời gian chờ đợi vượt quá 30 ngày theo quy định chuẩn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của tình trạng trên bắt nguồn từ rào cản tâm lý xã hội sâu sắc khi 46% người dân lo ngại sự kỳ thị và muốn giữ bí mật để trẻ không mang mặc cảm. Về mặt pháp lý, các tiêu chuẩn đánh giá điều kiện kinh tế, sức khỏe và chỗ ở tại khoản 1 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 còn mang tính định tính, thiếu chỉ số định lượng cụ thể khiến cán bộ tư pháp cấp xã lúng túng khi thẩm định. So với các nghiên cứu giai đoạn 2000-2010 khi pháp luật còn nằm phân tán trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, việc ban hành Luật Nuôi con nuôi năm 2010 là bước đột phá lớn, nhưng sự thiếu tương thích với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Hộ tịch năm 2014 về thay đổi họ tên, quốc tịch đã tạo ra xung đột pháp lý.

Để làm rõ các phát hiện, dữ liệu thực tiễn có thể được mô tả trực quan thông qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu giải quyết con nuôi thực tế (45% đã đăng ký hợp pháp so với 55% chưa đăng ký) và bảng thống kê chi tiết 5 nhóm nguyên nhân tồn đọng (1.884 ca bảo mật, 1.549 ca thiếu giấy tờ, 417 ca một bên qua đời, 131 ca chấm dứt nuôi dưỡng, 84 ca vướng mắc chênh lệch tuổi). Cách trình bày này giúp các nhà quản lý thấy rõ thứ tự ưu tiên cần tháo gỡ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện quy định pháp luật: Bộ Tư pháp chủ trì tham mưu Chính phủ trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật Nuôi con nuôi năm 2010 trong giai đoạn 2021-2025. Cần bổ sung quy định linh hoạt giảm khoảng cách tuổi từ 20 tuổi xuống 15 tuổi đối với trường hợp người nhận nuôi là cô, dì, chú, bác ruột hoặc cha dượng, mẹ kế; đồng thời định lượng hóa tiêu chí điều kiện kinh tế và chỗ ở ổn định.

Thứ hai, gia hạn cơ chế đăng ký con nuôi thực tế: Chính phủ ban hành Nghị quyết cho phép kéo dài thời hiệu đăng ký nuôi con nuôi thực tế thêm 5 năm (giai đoạn 2021-2026), đặt mục tiêu giải quyết dứt điểm 4.605 trường hợp còn tồn đọng, nâng tỷ lệ hợp pháp hóa đạt trên 90%.

Thứ ba, tăng cường chuyển đổi số và liên thông thủ tục hộ tịch: Bộ Tư pháp phối hợp Bộ Công an và Bộ Y tế tích hợp cơ sở dữ liệu nuôi con nuôi vào Hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trước năm 2024. Mục tiêu cắt giảm 50% thời gian xác minh hồ sơ trẻ em bị bỏ rơi từ 30 ngày xuống còn 15 ngày làm việc, ngăn ngừa triệt để tình trạng làm giả giấy khai sinh.

Thứ tư, đẩy mạnh truyền thông pháp lý và hỗ trợ tư vấn cộng đồng: Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo Phòng Tư pháp và Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức 100% các đợt tập huấn chuyên sâu cho cán bộ hộ tịch, kết hợp Hội Liên hiệp Phụ nữ xóa bỏ tâm lý e ngại của 1.884 hộ gia đình muốn giữ bí mật đời tư thông qua cam kết bảo mật thông tin hồ sơ theo quy định của pháp luật.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ tư pháp hộ tịch: Đội ngũ cán bộ tại Cục Con nuôi - Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp và công chức tư pháp - hộ tịch tại 63 tỉnh, thành phố có thể sử dụng công trình làm cẩm nang hướng dẫn nghiệp vụ, chuẩn hóa quy trình tiếp nhận và thẩm định hồ sơ nuôi con nuôi trong nước và quốc tế.

Thứ hai, thẩm phán, luật sư và chuyên gia tư vấn pháp lý: Luận văn cung cấp hệ thống căn cứ vững chắc phục vụ việc thụ lý, xét xử và giải quyết các vụ việc dân sự phức tạp liên quan đến quyền thừa kế, thay đổi hộ tịch, xác định cha mẹ con và chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên luật học: Đây là tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu cho các môn học Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Dân sự, Luật Hộ tịch và Luật So sánh tại các cơ sở đào tạo luật trên toàn quốc.

Thứ tư, các cá nhân, cặp vợ chồng có nguyện vọng nhận con nuôi và các tổ chức từ thiện: Giúp các gia đình nắm vững quyền lợi, nghĩa vụ và 4 điều kiện luật định để hoàn thiện thủ tục nhận nuôi an toàn, hợp pháp, tránh các rủi ro pháp lý về sau.

Câu hỏi thường gặp

Thứ nhất, điều kiện về độ tuổi đối với người nhận nuôi con nuôi được quy định như thế nào?

Theo Điều 14 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, người nhận con nuôi phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên. Tuy nhiên, trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định khoảng cách 20 tuổi này.

Thứ hai, việc nhận trẻ em từ bao nhiêu tuổi làm con nuôi cần phải có sự đồng ý của chính trẻ em đó?

Căn cứ khoản 1 Điều 21 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, trường hợp nhận trẻ em từ đủ 9 tuổi trở lên làm con nuôi thì bắt buộc phải được sự đồng ý của chính đứa trẻ. Quy định này nhằm tôn trọng ý chí độc lập và bảo đảm sự an toàn tâm lý của trẻ em khi hòa nhập gia đình mới.

Thứ ba, người độc thân có được quyền nhận con nuôi theo pháp luật Việt Nam hay không?

Pháp luật Việt Nam hoàn toàn bảo hộ quyền của người độc thân được nhận con nuôi. Căn cứ khoản 3 Điều 8 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng có đăng ký kết hôn hợp pháp.

Thứ tư, nuôi con nuôi thực tế chưa đăng ký thì có phát sinh quyền thừa kế không?

Nuôi con nuôi thực tế chưa qua thủ tục đăng ký tại Ủy ban nhân dân cấp xã không có giá trị pháp lý. Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, chỉ khi quan hệ nuôi con nuôi được đăng ký hợp pháp thì cha mẹ nuôi và con nuôi mới thuộc hàng thừa kế thứ nhất của nhau.

Thứ năm, Việt Nam đã có những bảo đảm pháp lý quốc tế nào về nuôi con nuôi?

Việt Nam đã gia nhập Công ước La Hay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế, đồng thời ký kết hiệp định hợp tác song phương về nuôi con nuôi với 14 quốc gia nhằm bảo đảm tối đa nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.

Kết luận

Nghiên cứu đã đạt được 5 kết quả cốt lõi:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chế định nuôi con nuôi qua hơn 500 năm lập pháp từ Bộ luật Hồng Đức năm 1483 đến hệ thống pháp luật hiện hành.
  • Khảo sát thực chứng 9.436 trường hợp nuôi con nuôi thực tế, nhận diện chính xác nguyên nhân khiến 4.605 hồ sơ còn tồn đọng chưa được đăng ký.
  • Chỉ rõ những điểm bất cập, mâu thuẫn giữa Luật Nuôi con nuôi năm 2010 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Hộ tịch năm 2014.
  • Đề xuất lộ trình sửa đổi, bổ sung chính sách giai đoạn 2021-2025 với 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao.
  • Khẳng định giá trị nhân văn sâu sắc của việc bảo vệ quyền trẻ em được nuôi dưỡng trong môi trường gia đình lành mạnh.

Về định hướng tiếp theo, cơ quan lập pháp cần nhanh chóng đưa dự án Luật sửa đổi Luật Nuôi con nuôi vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trước năm 2025. Hãy cùng chung tay hoàn thiện thể chế pháp lý và đồng hành cùng các gia đình nhằm bảo đảm tương lai tốt đẹp nhất cho mọi trẻ em.