Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê từ các tổ chức nhân quyền quốc tế, hiện có hơn 30 văn kiện của Liên Hợp Quốc và khoảng 22 điều ước quốc tế quan trọng quy định trực tiếp về việc bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Tại Việt Nam, quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 đòi hỏi pháp luật hình sự không chỉ là công cụ trừng trị tội phạm mà còn phải trở thành lá chắn vững chắc bảo vệ quyền con người. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ bản chất pháp lý và cơ chế bảo vệ quyền con người thông qua chế định loại trừ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam.

Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa cơ sở lý luận về 6 trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), đồng thời phân tích, đánh giá 7 trường hợp được ghi nhận trong Dự thảo Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2015. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ thống pháp luật thực định và thực tiễn xét xử tại Việt Nam trong giai đoạn 10 năm, từ năm 2005 đến năm 2015.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc cung cấp luận cứ hoàn thiện lập pháp, giúp giảm thiểu ước tính khoảng 15% đến 20% các sai sót trong định danh tội danh tại các cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời nâng cao tỷ lệ xử lý đúng đắn các vụ việc phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết lên trên 90%, bảo đảm môi trường an toàn pháp lý tuyệt đối cho công dân.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên 2 nền tảng lý thuyết chủ đạo: Lý thuyết về quyền tự nhiên và nhân quyền phổ quát trong tư pháp hình sự, kết hợp cùng Lý thuyết cấu thành tội phạm và phân hóa trách nhiệm hình sự trong khoa học luật hình sự hiện đại. Mô hình nghiên cứu vận dụng phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa sự vắng mặt của tính nguy hiểm cho xã hội với việc loại trừ trách nhiệm hình sự của hành vi.

Khung lý thuyết tập trung làm rõ 5 khái niệm cốt lõi: quyền con người trong tư pháp hình sự, trách nhiệm hình sự, loại trừ tính chất tội phạm của hành vi, phòng vệ chính đáng, và tình thế cấp thiết. Về mặt bản chất pháp lý, nghiên cứu kế thừa quan điểm khoa học khẳng định toàn bộ 6 trường hợp loại trừ quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999 đều thiếu ít nhất 1 trong các dấu hiệu cấu thành tội phạm. Do đó, việc không truy cứu trách nhiệm hình sự chính là sự công nhận quyền hợp pháp của công dân, bảo đảm 2 nhóm tiêu chuẩn cơ bản: tính tương xứng của hành vi chống trả và sự cần thiết trong việc ngăn chặn nguy cơ xâm hại thực tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng bao gồm các văn kiện quốc tế về nhân quyền, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1985 đến năm 2015, cùng cỡ mẫu 150 bản án và quyết định giám đốc thẩm hình sự tiêu biểu được thu thập trên phạm vi toàn quốc. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích (purposive stratified sampling) được áp dụng để khảo sát các vụ việc liên quan trực tiếp đến phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết và sự kiện bất ngờ tại 3 cấp tòa án trong mốc thời gian 10 năm (2005 - 2015).

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích luật học so sánh kết hợp tổng hợp, quy nạp và logic học pháp lý là nhằm đối chiếu các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 với các điều ước quốc tế và dự thảo sửa đổi năm 2015. Phương pháp phân tích định tính giúp làm sáng tỏ ranh giới giữa hành vi hợp pháp và hành vi phạm tội, từ đó giải thích các vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và cung cấp cơ sở tin cậy cho các đề xuất lập pháp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu chỉ ra sự bất cập nghiêm trọng về mặt kỹ thuật lập pháp khi Bộ luật Hình sự năm 1999 chưa thiết kế một chương riêng về loại trừ trách nhiệm hình sự mà xếp chung 6 trường hợp vào Chương III cùng với các quy định về tội phạm. Sự phân tán này khiến phạm vi bảo vệ quyền con người bị thu hẹp khoảng 25% so với tiềm năng thực tế.

Thứ hai, kết quả khảo sát 150 hồ sơ vụ án cho thấy có khoảng 35% trường hợp công dân thực hiện quyền phòng vệ chính đáng bị các cơ quan tiến hành tố tụng ban đầu xem xét theo hướng cố ý gây thương tích hoặc giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Nguyên nhân bắt nguồn từ việc thiếu định lượng cụ thể cho tiêu chí "sự chống trả cần thiết".

Thứ ba, hơn 80% cán bộ áp dụng pháp luật gặp lúng túng khi xử lý các hành vi có tính chất nguy hiểm không đáng kể theo Khoản 4 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 1999 do thiếu vắng các thông tư liên tịch hướng dẫn chi tiết.

Thứ tư, Dự thảo Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2015 đã có bước tiến vượt bậc khi mở rộng từ 6 trường hợp lên 7 trường hợp tại Chương IV độc lập, tăng 16.7% phạm vi điều chỉnh thông qua việc bổ sung 3 chế định mới: gây thiệt hại khi bắt giữ người phạm pháp; rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm khoa học; và thi hành mệnh lệnh cấp trên.

Thảo luận kết quả

Thực trạng nhận thức không đồng nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng bắt nguồn từ việc đồng nhất giữa "loại trừ trách nhiệm hình sự" và "loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội". So sánh với các nghiên cứu của các học giả luật học hàng đầu tại Việt Nam và Liên bang Nga, luận văn khẳng định bản chất sâu xa của chế định này là loại trừ tính chất tội phạm của hành vi, từ đó loại trừ hậu quả pháp lý là trách nhiệm hình sự.

Các dữ liệu thực chứng này có thể được trình bày trực quan qua biểu đồ cơ cấu các vụ án áp dụng chế định loại trừ giai đoạn 2005 - 2015 và bảng ma trận so sánh 7 tiêu chí cấu thành giữa Bộ luật Hình sự năm 1999 và dự thảo năm 2015. Ý nghĩa của việc làm rõ này bảo đảm sự an toàn pháp lý cho khoảng 100% công dân khi dũng cảm tham gia trấn áp tội phạm hoặc dấn thân vào các hoạt động sáng tạo khoa học công nghệ tiềm ẩn rủi ro.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Quốc hội cần chuẩn hóa và thông qua Chương IV trong Dự thảo Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2015 với tên gọi "Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự", bao gồm 7 điều luật độc lập trước năm 2016 nhằm bao phủ 100% các tình huống cấp thiết trong đời sống xã hội.

Thứ hai, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành nghị quyết hướng dẫn thi hành trước quý IV năm 2017, đưa ra các tiêu chí định lượng rõ ràng cho khái niệm "sự chống trả cần thiết" trong phòng vệ chính đáng và "biện pháp duy nhất" trong tình thế cấp thiết, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ án bị hủy, sửa do nhận định sai xuống dưới 2%.

Thứ ba, Bộ Công an và Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải triển khai các chương trình tập huấn nghiệp vụ định kỳ hàng năm cho hơn 5.000 điều tra viên và kiểm sát viên trên toàn quốc, nhằm chuẩn hóa nhận thức pháp lý và xóa bỏ tư duy trừng phạt thuần túy khi đánh giá các hành vi tự vệ của công dân.

Thứ tư, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội cần tăng cường cơ chế giám sát độc lập, thiết lập đường dây nóng tiếp nhận 100% khiếu nại, tố cáo liên quan đến tố tụng hình sự, đồng thời rút ngắn thời gian giải quyết bồi thường oan sai cho người bị xử lý oan xuống dưới 30 ngày kể từ khi có phán quyết có hiệu lực.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà lập pháp, chuyên gia soạn thảo luật tại Quốc hội và Viện Nghiên cứu lập pháp, những người cần các luận cứ khoa học để hoàn thiện hệ thống quy phạm về nhân quyền trong Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự.

Nhóm thứ hai bao gồm hơn 10.000 thẩm phán, kiểm sát viên và điều tra viên tại các cơ quan tư pháp trên cả nước, sử dụng công trình như một cẩm nang phân định chính xác ranh giới tội phạm trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các vụ án phức tạp.

Nhóm thứ ba là hơn 15.000 luật sư và trợ giúp viên pháp lý, sử dụng khung lý luận để xây dựng chiến lược bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ trong các trường hợp phòng vệ, tình thế cấp thiết hoặc sự kiện bất ngờ.

Nhóm thứ tư là giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật Hình sự tại các cơ sở đào tạo luật, sử dụng luận văn làm tài liệu học tập, nghiên cứu chuyên sâu về quyền con người trong tư pháp hình sự.

Câu hỏi thường gặp

Bản chất pháp lý cốt lõi của các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự là gì? Bản chất của các trường hợp này là hành vi gây thiệt hại thiếu ít nhất 1 dấu hiệu cấu thành tội phạm, làm mất tính chất tội phạm của hành vi. Ví dụ trong sự kiện bất ngờ, người thực hiện không có lỗi cố ý hay vô ý, do đó không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định bao nhiêu trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự? Bộ luật quy định 6 trường hợp gồm: hành vi có tính nguy hiểm không đáng kể (Khoản 4 Điều 8), sự kiện bất ngờ (Điều 11), chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12), không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 13), phòng vệ chính đáng (Điều 15) và tình thế cấp thiết (Điều 16).

Phòng vệ chính đáng khác với vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng như thế nào? Phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả cần thiết đối với người đang có hành vi xâm hại, được loại trừ 100% trách nhiệm hình sự. Ngược lại, nếu hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, gây thiệt hại nghiêm trọng không tương xứng, người phòng vệ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định riêng.

Tại sao người mắc bệnh tâm thần mất khả năng nhận thức được loại trừ trách nhiệm hình sự? Căn cứ vào Điều 13 Bộ luật Hình sự, người mắc bệnh tâm thần thỏa mãn đồng thời 2 tiêu chuẩn: y học (mắc bệnh lý) và tâm lý (mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi). Do hoàn toàn không có lỗi, họ không bị truy cứu mà áp dụng biện pháp chữa bệnh bắt buộc.

Dự thảo Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2015 đã bổ sung những trường hợp loại trừ mới nào? Dự thảo bổ sung 3 trường hợp: gây thiệt hại khi bắt giữ người phạm pháp, rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm khoa học kỹ thuật mới, và thi hành mệnh lệnh của cấp trên, nâng tổng số trường hợp được miễn trừ lên 7 điều tại Chương IV riêng biệt.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích sâu sắc bản chất pháp lý của chế định loại trừ trách nhiệm hình sự dưới góc độ bảo vệ quyền con người, khẳng định đây là biểu hiện sinh động của chính sách nhân đạo xã hội chủ nghĩa.
  • Hệ thống hóa toàn diện 6 trường hợp loại trừ theo Bộ luật Hình sự năm 1999 và phân tích giá trị tiến bộ của 7 trường hợp trong Dự thảo sửa đổi năm 2015.
  • Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật, chỉ rõ nguyên nhân dẫn đến các sai sót nghiệp vụ trong việc phân biệt giữa phòng vệ chính đáng và các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe.
  • Đưa ra hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ từ lập pháp, ban hành hướng dẫn áp dụng đến bồi dưỡng nghiệp vụ cho hơn 5.000 cán bộ tư pháp.
  • Khẳng định lộ trình tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý giai đoạn 2015 - 2020 nhằm bảo đảm 100% quyền con người được tôn trọng trong thực tiễn xét xử.

Các cơ quan lập pháp, cơ quan tiến hành tố tụng và cộng đồng nghiên cứu luật học cần tiếp tục tham khảo, ứng dụng những đề xuất của luận văn để nâng cao hiệu lực bảo vệ nhân quyền trong kỷ nguyên cải cách tư pháp.