Chương 1. Một số vấn đề chung về bảo vệ quyền con người bằng những quy định về quyết định hình phạt trong luật hình sự. Chương 2: Các quy định về quyết định hình phạt trong Bộ luật hình sự năm 2015 dưới góc độ bảo vệ quyền con người. Chương 3: Thực tiễn áp dụng, yêu cầu và một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định về quyết định hình phạt trong Bộ luật hình sự năm 2015 dưới góc độ bảo vệ quyền con người.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI BẰNG NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ 1. Khái niệm và đặc điểm của quyền con ngƣời 1. Khái niệm quyền con người Quyền con người là những giá trị trân quý, là tinh hoa của nền văn minh nhân loại. Đó tiếng nói chung của tất cả các dân tộc trên thế giới nhằm hướng đến mục tiêu thúc đẩy và bảo vệ phẩm giá cũng như hạnh phúc của mọi con người.
Sau khi chiến tranh thế giới lần hai kết thúc, quyền con người và những đảm bảo pháp lý về quyền con người ngày càng được ghi nhận và phát triển thành một hệ thống với những tiêu chuẩn quốc tế, mang tính bắt buộc đối với mọi quốc gia. Cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội loài người, quyền con người và các cơ chế bảo vệ quyền con người đã dần trở thành giá trị cơ bản đánh giá trình độ văn minh của các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Chủ nghĩa Mác - Lênin xác định vấn đề quyền con người xuất phát từ cách tiếp cận con người vừa là sản phẩm tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội; do vậy, quyền của con người vừa mang tính tự nhiên và vừa mang tính xã hội. Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng vấn đề quyền con người: “Về bản chất bao hàm cả hai mặt tự nhiên và xã hội” [23].
Trong mặt tự nhiên, C.Mác coi con người là “động vật xã hội” có khả năng “tái sinh ra con người”, con người là động vật cao cấp nhất trong quá trình tiến hóa. Ăng-ghen trên cơ sở tổng kết thực tiễn nhân quyền tư sản và phê phán các tư tưởng về quyền con người trong xã hội tư sản. Theo các ông, phương thức sản xuất tạo thành cơ sở hạ tầng kinh tế, làm phát sinh, phát triển các mối quan hệ xã hội của con người, như đạo đức, chính trị, nhà nước, pháp luật và quyền con người. Mác khẳng định, quyền con người được luật pháp hóa thì thành quyền công dân theo nguyên tắc: “Không có quyền lợi nào mà không có nghĩa vụ, không có nghĩa vụ nào mà không có quyền lợi”, “Quyền không bao giờ có thể ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa do chế độ kinh tế đó quyết định” [24]; tương ứng với những thời đại khác nhau và những cơ sở kinh tế - xã hội khác nhau thì có quyền khác nhau.
Nghĩa là, quan niệm về quyền con người không phải khái niệm, phạm trù bất biến, mà 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chúng có sự biến đổi trong lịch sử, tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh ở mỗi nơi chúng tồn tại. Quyền con người, nếu xét một cách toàn diện, gồm quyền sống, quyền lao động và quyền tự do. Bởi lẽ, các quyền này thể hiện ba phương diện cốt lõi của đời sống con người: Con người trước hết phải được tồn tại (quyền sống); con người phải được hoạt động (quyền lao động); con người phải được khẳng định, được phát triển (quyền tự do). Kế thừa và tiếp tục phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin trong điều kiện thực tế tại Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã có những nhận định vô cùng xác đáng về nhân quyền.
Ở đây, quyền con người không chỉ là thuộc về từng cá nhân riêng lẻ, là giá trị nhân văn cao nhất mà mỗi người đương nhiên có được, mà đó còn là giá trị văn hóa của cộng đồng, quốc gia, dân tộc. Quyền con người gắn bó chặt chẽ với các quyền dân tộc cơ bản và thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia, là bộ phận không thể tách rời của tiến trình lịch sử dân tộc. Điều đó cho thấy kết hợp tài tình giữa tinh hoa văn hóa nhân văn nhân loại với những giá trị truyền thống của dân tộc. Sự phát triển khái niệm quyền con người thành quyền dân tộc cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện rõ nét trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945.
Bằng những luận điểm đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” [16]. Tại Đại hội lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam, con người đã được xác định là trung tâm của mọi chính sách phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam. Trải qua quá trình phát triển và mới đây nhất quyền con được ghi nhận ở Hiến pháp năm 2013, trong Chương 2, tại Điều 14 quy định: “1.
Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” [1]. Trên cơ sở lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta qua các giai đoạn cách mạng đã tiếp cận vấn đề quyền con người từ quyền của 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người dân mất nước và quyền của người lao động, từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta khẳng định: Chủ nghĩa xã hội là chế độ tốt nhất bảo đảm quyền con người cho nhân dân Việt Nam. Sự vận dụng, phát triển sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta là không quên quyền lợi của bất kỳ một giai tầng xã hội nào, từ nhi đồng, thiếu niên, đến thanh niên, phụ nữ, phụ lão, công nhân, nông dân, bộ đội, trí thức, đồng bào dân tộc thiểu số và tôn giáo, người khuyết tật, người dân mất nước,.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta xác định dân là chủ thì mới làm chủ và coi quyền cá nhân phải gắn với quyền tập thể, với quyền của toàn thể xã hội; bảo đảm quyền lợi của nhân dân Việt Nam, đồng thời tôn trọng quyền lợi của các dân tộc khác. Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải là “công bộc”, là tấm gương phục vụ quyền lợi của nhân dân; đề ra nguyên tắc “trăm điều phải có thần linh pháp quyền” trong tổ chức xây dựng, vận hành chế độ dân chủ với Nhà nước của dân, do dân, vì dân; trong đó, việc bảo đảm quyền con người là trách nhiệm trước tiên của Đảng, Nhà nước. Nét đặc sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta là kế thừa, phát triển quyền con người “tự nhiên” của mỗi cá nhân thành quyền đương nhiên của mọi dân tộc; đúc kết tư tưởng cốt lõi về quyền con người vào các giá trị: độc lập - tự do - hạnh phúc cho mỗi người và mọi người; trong đó, “nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” [17]. Trong Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nôi, tập thể tác giả định nghĩa quyền con người là “những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” [26].
Lê Văn Cảm đưa ra khái niệm quyền con người như sau: “Quyền con người là một phạm trù lịch sử - cụ thể là giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại và là đặc trưng tự nhiên vốn có cần được tôn trọng và không thể bị tước đoạt của bất kỳ cá nhân con người nào sinh ra trên trái đất, đồng thời phải được bảo vệ bằng pháp luật bởi các quốc gia – thành viên Liên hợp quốc cũng như bởi cộng đồng quốc tế” [36, tr 224]. TS Trần Quang Tiệp định nghĩa về quyền con người một cách ngắn gọn, theo đó, quyền con người “là những đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ con người mới được hưởng trong những điều kiện chính trị, văn hóa kinh tế, xã hội nhất định” [37, tr 14]. Một định nghĩa được sử dụng tương đối phổ biến trong giảng dạy, nghiên cứu về 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhân quyền ở nước ta hiện nay coi: “Nhân quyền (hay quyền con người) là những năng lực và nhu cầu vốn có và chỉ có ở con người, với tư cách là thành viên cộng đồng nhân loại, được thể chế hóa bằng pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” [38, tr 10]. Những định nghĩa này tuy có những điểm khác biệt, nhưng nhìn chung, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.
Từ việc nghiên cứu, tổng hợp các khái niệm, các văn bản pháp lý, người viết có thể đưa ra khái niệm về quyền con người như sau: Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Quyền con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và mọi giai đoạn lịch sử. Trong thời đại ngày nay, quyền con người không thể tách khỏi hòa bình, dân chủ và phát triển. Đặc điểm quyền con người Thông qua việc nghiên cứu những Văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam cùng những văn bản pháp luật được Nhà nước ta ban hành, kết hợp với những đặc tính nêu trên có thể rút ra sáu đặc điểm riêng có của quyền con người ở nước ta như sau.
Một là, quyền con người là giá trị chung của toàn nhân loại.