CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CHO PHỤ NỮ NÔNG THÔN 1. Việc làm và thu nhập cho lao động phụ nữ nông thôn 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm về việc làm Bản thân cá nhân mỗi con người trong nền sản xuất xã hội đều chiếm những vị trí nhất định, mỗi vị trí mà người lao động chiếm giữ trong hệ thống sản xuất xã hội với tư cách là một sự kết hợp của các yếu tố khác trong quá trình sản xuất được gọi là chỗ làm hay việc làm. Đứng trên các gốc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đã đưa ra rất nhiều định nghĩa nhằm làm sáng tỏ: “việc làm là gì?” Và ở các quốc gia khác nhau do ảnh hưởng của nhiều yếu tố (như điều kiện kinh tế, chính trị, pháp luật.) người ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau. Chính vì thế không có một định nghĩa chung và khái quát nhất định về việc làm.
Theo Điều 9 Bộ luật Lao động năm 2012: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. Theo định nghĩa này “việc làm” bao gồm một phạm vi rất rộng: từ những công việc được thực hiện trong các nhà máy, công sở đến các hoạt động hợp pháp tại khu vực phi chính quy (vốn trước đây không được coi là việc làm), các công việc nội trợ và chăm sóc con cái trong gia đình đều được coi là việc làm. Đây là những công việc không được trả tiền, phần lớn là do phụ nữ đảm nhận. Theo quan điểm của Mác: “Việc làm” là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ.) để sử dụng sức lao động đó.
Sức lao động do người lao động sở hữu những điều kiện cần thiết như: vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ. có thể do người lao động có quyền sở hữu, sử dụng hay quản lý hoặc không. Theo quan điểm của Mác thì bất cứ tình huống nào xảy ra gây nên trạng thái mất cân bằng giữa sức lao động và điều kiện cần thiết để sử dụng sức lao động đó đều có thể dẫn tới sự thiếu việc làm hay mất việc làm. 6 Với quan điểm của tổ chức lao động quốc tế (ILO): Người có việc làm là người làm trong các lĩnh vực, ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời đóng góp một phần cho xã hội.
Như vậy, việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Một người lao động có việc làm khi người ấy chiếm được một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội. Thông qua việc làm để người ấy thực hiện quá trình lao động tạo ra sản phẩm và thu nhập của người ấy. Theo tài liệu nghiên cứu chính sách xã hội nông thôn Việt Nam: Tạo việc làm theo nghĩa rộng bao gồm những vấn đề liên quan đến việc phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn lao động.
Quá trình đó diễn ra từ giáo dục đào tạo và phổ cập nghề nghiệp, chuẩn bị cho người lao động bước vào cuộc đời lao động, đến tự do lao động và hưởng thụ xứng đáng với những giá trị lao động mà mình tạo ra. Tạo ra việc làm theo nghĩa hẹp chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, chưa có việc làm hoặc thiếu việc làm nhằm tạo thêm việc làm cho người lao động và duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp. - Người có việc làm: Người có việc làm là người đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế: - Đang làm việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc lợi nhuận bằng tiền hay hiện vật. - Đang làm công việc không được hưởng tiền lương, tiền công hay lợi nhuận trong các công việc sản xuất kinh doanh của hộ gia đình mình nhưng không được trả công cho công việc đó.
- Đã có công việc trước đó song tại thời điểm điều tra tạm thời không làm việc và sẽ trở lại làm việc ngay sau thời gian nghỉ việc. - Người thất nghiệp: Là những người trong độ tuổi lao động, có sức lao động nhưng chưa có việc làm, đang có nhu cầu việc làm nhưng chưa tìm được việc làm (theo định nghĩa Nghiên cứu chính sách xã hội nông thôn Việt Nam). 7 Đối lập với việc làm, thất nghiệp là một tính từ có tính tự nhiên của nền kinh tế thị trường. Vấn đề thất nghiệp đã được nhiều nước, nhiều tổ chức, nhiều nhà khoa học bàn luận.
Song cũng còn nhiều ý kiến khác nhau nhất là về thất nghiệp. Luật Bảo hiểm thất nghiệp Cộng hoà liên bang Đức định nghĩa: “Thất nghiệp là người lao động tạm thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện công việc ngắn hạn”. Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức lương thịnh hành”. Hội nghị Thống kê Lao động Quốc tế lần thứ tám năm 1954 tại Giơnevơ đưa ra định nghĩa: Thất nghiệp là người đã qua một độ tuổi xác định mà trong một ngành hoặc một tuần xác định, thuộc những loại sau đây: - Người lao động có thể đi làm nhưng hết hạn hợp đồng hoặc bị tạm ngừng hợp đồng, đang không có việc làm và đang tìm việc làm.
- Người lao động có thể đi làm trong một thời gian xác định và đang tìm việc làm có lương mà trước đó chưa hề có việc làm, hoặc vị trí hành nghề cuối cùng trước đó không phải là người làm công ăn lương (ví dụ người sử dụng lao động chẳng hạn) hoặc đã thôi việc.- Người không có việc làm và có thể đi làm ngay và đã có sự chuẩn bị cuối cùng để làm một công việc mới vào một ngày nhất định sau một thời kỳ đã được xác định. - Người phải nghỉ việc tạm thời hoặc không thời hạn mà không có lương. Các định nghĩa tuy có khác nhau về mức độ, giới hạn (tuổi, thời gian mất việc) nhưng đều thống nhất người thất nghiệp ít nhất phải có 3 đặc trưng: - Có khả năng lao động. - Đang không có việc làm.
- Đang đi tìm việc làm. Định nghĩa thất nghiệp ở Việt nam: “ Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang không có việc làm, đang đi tìm việc làm”. Ở nước ta trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường thất nghiệp sẽ là điều khó tránh khỏi. Giải quyết tình trạng thất nghiệp và tránh cho người lao động khỏi thất nghiệp, tạo chỗ làm việc mới đang là những vấn đề cần giải quyết.2 Khái niệm về thu nhập Trong các cuộc khảo sát về mức sống hộ gia đình (VLSS) do Tổng cục thống kê thực hiện thu nhập của hộ được xác định là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm.
Thu nhập của hộ bao gồm: - Thu nhập từ tiền công, tiền lương; - Thu nhập từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất); - Thu nhập từ sản xuất ngành nghề phi nông nghiệp như ngành công nghiệp, ngành thương mại và dịch vụ (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất); - Thu khác được tính vào thu nhập như thu từ cho, biếu, mừng, lãi tiết kiệm,… - Các khoản thu không tính vào thu nhập gồm rút tiền tiết kiệm, thu nợ, bán tài sản, vay nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được do liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh.3 Các khái niệm liên quan đến lao động Lao động: được Ph.Ăngghen định nghĩa: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống con người, đến một mức và trên một ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói rằng: Lao động đã tạo ra chính bản thân con người (Chu Thanh Hưởng & ctv, 2004). Theo Bộ luật Lao động năm 1994, lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước. Lực lượng lao động: là một bộ phận của nguồn lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động, đang có việc làm và những người chưa có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc (Wattpad, 2012).
9 Lao động nông thôn: Theo Đồng Văn Tuấn (2004), lao động nông thôn là những người thuộc lực lượng lao động và hoạt động trong lĩnh vực kinh tế nông thôn. Lao động nông thôn có những đặc điểm sau: - Trình độ thể lực hạn chế do kinh tế kém phát triển, mức sống thấp. Điều này ảnh hưởng đến năng suất lao động và trình độ phát triển kinh tế. - Trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật cũng như trình độ tiếp cận thị trường thấp.
Đặc điểm này cũng ảnh hưởng đến khả năng tự tạo việc làm của lao động. - Lao động nông thôn nước ta còn mang nặng tư tưởng và tâm lý tiểu nông, sản xuất nhỏ, ngại thay đổi nên thường bảo thủ và thiếu năng động. Lao động nữ: là một bộ phận quan trọng của lực lượng lao động quốc gia, bao gồm một bộ phận dân cư là nữ trong độ tuổi lao động có khả năng làm việc, đang có việc làm hoặc không có việc làm, mong muốn có việc làm. Bộ Luật Lao động Việt Nam quy định: lao động nữ là những phụ nữ từ 15 - 55 tuổi có khả năng lao động, hiện đang có việc làm hoặc bị thất nghiệp.
Do đó có thể thấy: lực lượng lao động nữ bao gồm những phụ nữ trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những phụ nữ thất nghiệp nhưng đang có nhu cầu và mong muốn tìm kiếm việc làm. Phụ nữ là một lực lượng lao động quan trọng trong lực lượng lao động xã hội có tính đặc thù về giới và giới tính thể hiện trong sức khỏe và tâm sinh lí. Cùng với nam giới, phụ nữ nói chung và lao động nữ nói riêng đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Vai trò và đặc điểm của lao động nữ khu vực nông thôn 1.