Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ƯU ĐÃI XÃ HỘI VÀ PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI XÃ HỘI 1. Khái niệm và ý nghĩa về ưu đãi xã hội 1. Khái niệm ưu đãi xã hội Thấm nhuần đạo lý “Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây” trong những năm qua dù bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào của đất nước, công tác thương binh, liệt sĩ và người có công luôn được coi trọng, được sự quan tâm chỉ đạo đặc biệt của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, sự hưởng ứng tham gia nhiệt tình và trách nhiệm của các ngành các cấp và toàn thể nhân dân. Hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế chính sách về tôn vinh, ưu đãi, chăm sóc người có công ngày càng được hoàn thiện.
Đặc biệt, Hiến pháp 2013 lại khẳng định: “Nhà nước, xã hội tôn vinh, khen thưởng, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với nước” (Khoản 1, Điều 59). Ở mỗi thời kỳ, chế độ khác nhau thì chính sách đối với người có công cũng khác nhau. Nhưng suy cho cùng thì chính sách ưu đãi đối với người có công là sự ghi nhận những công lao của họ cho đất nước, là những chế độ đãi ngộ về vật chất và tinh thần, là sự bày tỏ lòng biết ơn đến những người đã hy sinh, đã cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước. Ở nước ta, chính sách Ưu đãi xã hội xuất hiện từ thời kỳ phong kiến.
Nếu như trong thời kỳ phong kiến chính sách ưu đãi xã hội có đối tượng là: Vua, quan, tướng sĩ, quân nhân với hình thức đơn giản là ban thưởng, tăng chức thì khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời ngày 02/9/1945 đến nay các đối tượng hưởng ưu đãi xã hội có sự thay đổi được thể hiện qua hàng loạt văn bản qui định cụ thể đối tượng và chế độ ưu đãi. Trong mấy chục năm qua, Đảng và Nhà nước ta coi việc thực hiện Ưu đãi xã hội là một quốc sách. Chủ trương đó đã được luật hóa bằng hai Pháp 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lệnh quan trọng đó là: Pháp lệnh “ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ, gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng” và Pháp lệnh “Quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng” khái niệm được hiểu theo 2 nghĩa rộng, hẹp khác nhau. Theo nghĩa rộng, người có công là người bình thường, làm việc đại nghĩa, có công lao to lớn đối với đất nước, tự coi đó là nghĩa vụ đối với cộng đồng không bao giờ kể công và không đòi hỏi cộng đồng phải báo nghĩa.
Cụ thể hơn, người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã tự nguyện cống hiến sức lực, tài năng, trí tuệ, có người hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp của dân tộc. Sự cống hiến của họ vì lợi ích của đất nước, được nhân dân tôn vinh và được Nhà nước thông qua cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ghi nhận theo qui định của pháp luật, đồng thời đảm bảo cho họ các chế độ ưu đãi về kinh tế, về chính trị, xã hội. Ở đây, có thể thấy rõ những tiêu chí cơ bản xác định nội hàm khái niệm người có công. Đó phải là những người có thành tích đóng góp hoặc cống hiến lớn lao, xuất sắc vì lợi ích chung của đất nước.
Những cống hiến đó có thể được thực hiện trong các cuộc kháng chiến vì độc lập tự do của Tổ quốc trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Theo nghĩa hẹp, khái niệm người có công được xác định là những người có cống hiến trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các chế độ đối với người có công theo qui định hiện hành của pháp luật nước ta chủ yếu áp dụng đối với các đối tượng này. Đó là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ…có những đóng góp, cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trước Cách mạng tháng 8/1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc, được các cơ quan tổ chức có thẩm quyền công nhận 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com theo qui định của pháp luật.
Dưới góc độ này, người có công với cách mạng bao gồm những người tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng, họ đã hy sinh cả cuộc đời hoặc một phần thân thể hoặc có thành tích đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ưu đãi xã hội là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta được cụ thể hóa thực hiện thông qua hệ thống pháp luật có bề dày lịch sử. Với vai trò là bộ phận cấu thành đặc biệt của hệ thống pháp luật an sinh xã hội Việt Nam, pháp luật ưu đãi xã hội giữ vững vai trò trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội quốc gia. Từ những khái niệm trên, cho thấy Đảng và Nhà nước đã thực sự quan tâm và đưa ra chính sách thích hợp đối với người có công hay còn được gọi là chính sách Ưu đãi xã hội.
Chính sách này là sự phản ánh trách nhiệm của Nhà nước, của cộng đồng xã hội, là sự đãi ngộ đặc biệt, ưu tiên hơn mức bình thường về mọi mặt trong đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần đối với những người có công lao đặc biệt đối với đất nước. Trên thế giới, bất cứ một quốc gia nào cũng có một bộ phận dân cư là những người có công với Tổ quốc họ. Chính vì vậy, các nước đều thực hiện chính sách ưu đãi người có công tùy theo từng điều kiện chính trị, kinh tế xã hội của mỗi nước mà có các chế độ, chính sách, các loại trợ cấp và các mức trợ cấp khác nhau. Đồng thời ở các nước đều có các cơ quan quản lý Nhà nước thực hiện các chính sách này (như Bộ Chiến tranh, Bộ xã hội, Bộ Phúc lợi xã hội, Bộ Lao động…) Chính sách ưu đãi xã hội ở nước ta cũng như ở các nước, mặc dù chế độ chính trị khác nhau, đối tượng ưu đãi khác nhau và mức độ thực hiện tùy theo điều kiện ở mỗi nước nhưng đều thể hiện: Mục đích thực hiện chính sách; Chính sách phải phản ánh bản chất của giai cấp thống trị; Nhà nước giữ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vai trò chủ đạo trong việc thực hiện các chính sách ưu đãi xã hội được thể hiện bằng các chế định pháp luật về trợ cấp, chăm sóc sức khỏe, bảo đảm việc làm… các chế độ ưu đãi được qui định chặt chẽ và được thực hiện tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi nước, mỗi giai đoạn.
Vì vậy, “Ưu đãi xã hội được hiểu là sự đãi ngộ của Nhà nước, cộng đồng và toàn xã hội về đời sống vật chất cũng như tinh thần đối với người có công và gia đình họ” [44, tr. Thực hiện tốt chính sách ưu đãi đối với người có công là việc làm có ý nghĩa quan trọng, nó không chỉ giúp ổn định đời sống của các đối tượng đặc biệt này, mà còn giúp họ hòa nhập với cộng đồng góp phần vào sự ổn định đời sống của các đối tượng người có công. Đồng thời, thực hiện chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công không chỉ thể hiện trách nhiệm của Đảng, Nhà nước mà còn thể hiện sự biết ơn đối với những cống hiến của họ, hơn nữa nó còn góp phần giáo dục thế hệ đi sau nhận thức được trách nhiệm của mình, tiếp tục phát huy hơn nữa tinh thần xả thân vì nước, lòng dũng cảm, những thành quả mà thế hệ cha anh đã ra sức bảo vệ, vun đắp nên. Do đó, chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công mang tính nhân văn sâu sắc, nó góp phần tạo ra môi trường lành mạnh, nâng cao ý thức trách nhiệm cho mỗi người công dân trong xã hội.
Ý nghĩa ưu đãi xã hội Về chính trị: Trong tình hình hiện nay, khi đất nước bước vào thời kỳ xây dựng và phát triển kinh tế nhưng các thế lực thù địch vẫn không ngừng chống phá cách mạng bằng các hoạt động và các thủ đoạn diễn biến hòa bình. Trước những biến đổi, những tác động của mặt trái cơ chế thị trường chính sách ưu đãi đối với người có công có ý nghĩa lớn lao, nó thể hiện rõ rệt quyền con người. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Văn kiện Đại hội IX của Đảng chỉ rõ : “Giải quyết tốt các vấn đề xã hội…Thực hiện chính sách ưu đãi xã hội và vận động toàn dân tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với các lão thành cách mạng, những người có công với nước, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, thương binh và cha mẹ, vợ con liệt sĩ, người được hưởng chính sách xã hội” [49,tr. Thực hiện tốt chính sách đối với người có công là việc làm có ý nghĩa quan trọng, không chỉ ổn định đời sống của bộ phận dân cư đặc biệt này mà còn góp phần vào sự ổn định chính trị và phát triển xã hội.
Mỗi sai lầm trong việc thực hiện chính sách người có công không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của họ mà còn đem lại những hậu quả khó lường. Về xã hội và nhân văn : Ưu đãi xã hội thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp, thể hiện tryền thống đạo lý quý báu của dân tộc ta, truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Ưu đãi xã hội thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm và tình cảm của Nhà nước và cộng đồng đối với người có công chứ không phải sự ban ơn, làm phúc, từ thiện, nhân đạo. Ưu đãi xã hội cũng bù đắp phần nào sự mất mát to lớn, sự hy sinh cao cả của những người có công, thể hiện sự đoàn kết giúp đỡ nhau trong cộng đồng, là sự chia xẻ trong cộng đồng, giúp đỡ những người khó khăn do cuộc kháng chiến để lại nhằm đảm bảo một xã hội phát triển lành mạnh.