phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, được chia thành 9 mục. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC HÌNH THỨC TIẾP CẬN PHÁP LUẬT 1. Khái niệm, đặc điểm các hình thức tiếp cận pháp luật. Trong nghiên cứu khoa học, điều quan trọng hàng đầu là làm rõ các khái niệm cơ bản của đối tượng nghiên cứu để từ đó, đi sâu phân tích những đặc điểm, thực hiện việc phân loại cũng như đánh giá thực trạng đối tượng nghiên cứu và đề xuất giải pháp hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn.
Khái niệm tiếp cận pháp luật và các hình thức tiếp cận pháp luật Khái niệm “tiếp cận pháp luật” và khái niệm “các hình thức tiếp cận pháp luật” là những khái niệm tương đối mới trong đời sống pháp lý nước ta. Thuật ngữ này mới chỉ xuất hiện trong những năm gần đây, gắn với công cuộc Đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền, thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế XHCN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và chủ động hội nhập quốc tế. Các thuật ngữ này được sử dụng nhiều hơn trong những năm gần đây, khi mà hoạt động hợp tác pháp luật giữa nước ta với các nước ngày càng được tăng cường và mở rộng, các quan hệ giao lưu, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau được tiến hành thường xuyên hơn. Quá trình giao lưu, học hỏi lẫn nhau dần dần hình thành khái niệm “tiếp cận pháp luật” mà thực chất theo tiếng Anh là thuật ngữ “Access to Justice”, trong đó “Access” được hiểu là “quyền tiếp cận, quyền được sử dụng, được phép tiếp cận hoặc cũng được hiểu là lối vào, lối đi qua 34, tr.
18 và “Justice” được dịch là “sự công bằng, công lý, tư pháp”34, tr. Vì vậy, thuật ngữ “Access to Justice” có thể được hiểu là “tiếp cận lẽ công bằng”, “tiếp cận công lý” và thuật ngữ này thường được dùng nhiều ở các nước Phương Tây mà ít thấy đề cập ở Việt Nam. Bởi lẽ, nói đến “tiếp cận công lý” người ta 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thường nghĩ tới tiếp cận với Toà án vì Toà án không chỉ là nơi thể hiện lẽ phải, lẽ công bằng, ra các phán quyết dựa trên luật pháp mà còn là nơi có khả năng sáng tạo ra pháp luật. Tiếp cận với Toà án cũng có nghĩa là TCPL, để bảo đảm cho người dân có thể tiếp cận Toà án một cách đầy đủ thì cần có những thiết chế hỗ trợ pháp lý mà trung tâm là các DVPL với tư cách là cách thức giúp đỡ đương sự vận dụng pháp luật để thực hiện các quyền và nghĩa vụ.
Vì vậy, theo một nghiên cứu mới đây, khái niệm “tiếp cận công lý” được cấu thành bởi các bộ phận là “một hệ thống toà án dễ tiếp cận và hoạt động hiệu quả, một đội ngũ luật sư có phẩm chất tốt và một hệ thống trợ giúp pháp lý tốt phục vụ cho người nghèo”81, tr. Thuật ngữ “tiếp cận công lý” ít được dùng ở Việt Nam hơn so với thuật ngữ TCPL, nhiều công trình nghiên cứu mặc dù đặt ra vấn đề tiếp cận Toà án, tiếp cận với các cơ quan nhà nước18… nhưng vẫn chỉ dừng lại ở khái niệm TCPL và tư pháp mà không dùng thuật ngữ “tiếp cận công lý”. Có thể cắt nghĩa lý do của việc sử dụng khái niệm này xuất phát từ thói quen trong cách dùng thuật ngữ, đồng thời, do nghề cung cấp DVPL ở nước ta chậm phát triển và người dân không có thói quen sử dụng luật sư. Mô hình tố tụng của ta lại là mô hình tố tụng thẩm vấn, do vậy, các hoạt động mang tính hỗ trợ pháp lý, bổ trợ tư pháp ít được quan tâm nên thiếu đi cơ sở thực tiễn cho sự ra đời một trong những yếu tố tạo thành nội hàm của khái niệm “tiếp cận công lý”.
Hơn nữa, đây cũng là vấn đề nhạy cảm nên thiếu đi những nghiên cứu đầy đủ và toàn diện để cắt nghĩa đầy đủ khái niệm này. Ngoài ra, ở nước ta, pháp luật là đại lượng thể hiện đầy đủ nhất ý chí và nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân và Toà án cũng chỉ là một trong những thiết chế được lập ra để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, để thực thi quyền lực nhà nước, Toà án không được phép tạo ra pháp luật. Trong khi đó, Nhà nước ta lại rất quan tâm đến việc đưa pháp luật đến với nhân dân để họ tự giác tuân thủ, chấp 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hành pháp luật và mang tính giáo dục, phòng ngừa từ xa hơn là khi đã xảy ra vấn đề rồi mới thực hiện việc giúp đỡ, hoặc thờ ơ để mặc cho người dân chủ động TCPL. Mặc dù vậy, trong chừng mực nào đó, các vấn đề liên quan đến quyền bào chữa, quyền khiếu kiện, quyền bảo vệ của công dân và các cơ chế bảo đảm cho công dân có thể sử dụng pháp luật để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình vẫn được bảo đảm.
Vì vậy, tiếp cận công lý có nội hàm hẹp hơn TCPL. Nói đến tiếp cận công lý là nói đến hoạt động của Toà án và các cơ quan bảo vệ pháp luật, gắn với vụ việc cụ thể liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Còn đối với TCPL, bản thân nó không chỉ dừng lại ở những vụ việc cụ thể, mà còn mang tính phòng ngừa, định hướng hành vi, giúp chủ thể pháp luật có được tri thức pháp luật để thực hiện và lựa chọn hành vi phù hợp với yêu cầu của xã hội. Như vậy, ở chừng mực nào đó, “tiếp cận công lý” chính là TCPL gắn liền với quá trình thực hiện pháp luật, gắn pháp luật với từng sự kiện, từng vấn đề pháp lý cụ thể.
Nói cách khác, nó không chỉ bao hàm việc tiếp cận các tri thức hiểu biết về pháp luật thực định mà còn hướng tới quá trình thẩm thấu của pháp luật trong hiện thực, là sự vận dụng pháp luật vào giải quyết từng vấn đề, quan hệ cụ thể. Khái niệm “tiếp cận” theo nghĩa Hán - Việt được giải thích là làm cho một cái gì đó “gần sát nhau” hơn với một cái khác, trong đó thuật ngữ “tiếp” được giải thích là “nối lại, hợp lại, nhận lấy, giáp với, liền với” còn “cận” có nghĩa là gần42, tr. Thuật ngữ này cũng được hiểu là “kề gần nhau”, là “đến để giao thiệp”23, tr. 817 hoặc là “tiến sát gần”, là “ở gần, kề cạnh”79, tr.
Như vậy, có thể hiểu “tiếp cận” chính là quá trình tương tác giữa chủ thể này với một chủ thể khác nhằm đạt được một mục đích xác định. Đó là quá trình xích lại gần nhau giữa các chủ thể, giữa các sự vật, hiện tượng, không chỉ về mặt không gian mà còn cả về mặt thời gian, nó cũng chính là quá trình 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thu hẹp khoảng cánh giữa chủ thể có nhu cầu tiếp cận với đối tượng. Trong xã hội, khái niệm tiếp cận thường gắn với hoạt động có mục đích, có ý thức của con người, là quá trình nhận thức về một sự vật, hiện tượng, một quá trình để qua đó có thể hình thành tri thức về đối tượng nhằm thoả mãn một nhu cầu nào đó của con người. Nói đến tiếp cận trước hết phải nói đến chủ thể thực hiện hoạt động có mục đích nhằm hướng tới nhận thức về đối tượng, qua đó hình thành tri thức về đối tượng để có thái độ xử sự phù hợp với những yêu cầu cũng như quy luật khách quan của đối tượng tiếp cận.
Khái niệm pháp luật, theo nghĩa Hán - Việt, chữ “pháp” gồm chữ “nước” và chữ “khứ” ghép lại và được hiểu như đạo pháp trừ tà khúc, chữ “luật” gồm chữ “xích” và chữ “luật” có nghĩa là những điều viết ra để điều hành xã hội 48, tr. Khái niệm pháp luật theo tiếng Pháp là “droit”, tiếng Anh là “right”, tiếng Đức là “recht”, tiếng Ý là “dirito”, dưới góc độ nội dung, có chung nghĩa là “công lý” nghĩa là “ngay thẳng, trừ gian”, cũng có nghĩa là “quyền” hoặc là đại lượng công bằng47, tr. Dưới góc độ hình thức, “pháp luật” được thẩm thấu trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; các tập quán pháp và các tiền lệ pháp; đó cũng có thể là toàn bộ các luật - lệ và quy tắc được ban hành trong nước để cai quản những hành động của các phần tử trong xã hội 47, tr. Xét về bản chất, pháp luật được quan niệm là ý chí chung (quy tắc xử sự chung) của cộng đồng được Nhà nước ghi nhận và bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước.
Pháp luật chính là hệ thống các quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện nhằm bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị trong xã hội và là nhân tố điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Hay là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, được bảo đảm thực hiện bằng nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự và ổn định xã hội vì sự phát triển bền vững của xã hội 28, tr. Như vậy, xét về nội dung, pháp luật là những quy tắc xử sự chung của cộng đồng, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước, để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội nhằm duy trì, định hướng, thúc đẩy các quan hệ này phát triển trong trật tự phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng và yêu cầu của thực tiễn với những thuộc tính công bằng, nhân đạo, dân chủ và thể hiện đầy đủ nhất yếu tố lợi ích của các giai tầng trong xã hội, trong đó lợi ích của giai cấp thống trị giữ vị trí trung tâm, chi phối các lợi ích của các giai tầng khác. Tuy nhiên, như vậy mới chỉ thấy được pháp luật là một yếu tố tĩnh mà chưa thấy được cơ chế vận hành của nó trong thực tiễn, trong mối tương quan với các công cụ điều chỉnh xã hội khác, pháp luật cần phải hiểu như một cơ thể sống, thể hiện qua đời sống pháp luật, là pháp luật trong hiện thực, sự vận hành của pháp luật trong thực tiễn.