Chương 1: Khái quát về văn hóa, văn học tỉnh Yên Bái. Chương 2: Nội dung văn xuôi Yên Bái từ 1986 đến nay. Chương 3: Nghệ thuật văn xuôi Yên Bái từ 1986 đến nay. Kết thúc mỗi chương chúng tôi đánh giá khái quát toàn chương thông qua phần tiểu kết 7.
Đóng góp của luận văn Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về văn xuôi Yên Bái từ 1986 đến nay trong một cái nhìn hệ thống, chúng tôi cung cấp những kiến thức cơ bản về vị trí địa lý, con người, văn hóa của quê hương Yên Bái; tiến trình hình thành và phát triển của văn học Yên Bái trước và sau 1986; khái quát về các tác giả, tác phẩm; thể loại, đặc điểm; thành tựu, hạn chế của văn học Yên Bái. Đồng thời hệ thống lại nội dung, nghệ thuật của văn xuôi Yên Bái, chỉ ra cá tính sáng tạo độc đáo của một số gương mặt nhà văn Yên Bái tiêu biểu từ 1986 đến nay như: Hoàng Hạc, Hà Lâm Kỳ, Hoàng Thế Sinh Khẳng định sự đóng góp của văn xuôi Yên Bái từ 1986 đến nay đối với nền văn học Việt Nam hiện đại. Góp thêm một tài liệu tham khảo phục vụ quá trình giảng dạy văn học địa phương tỉnh Yên Bái, cũng như những ai quan tâm đến văn xuôi Yên Bái. c 7 NỘI DUNG Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA, VĂN HỌC YÊN BÁI 1.
Khái quát về đặc điểm tự nhiên và xã hội của Yên Bái 1. Vài nét về tỉnh Yên Bái Tỉnh Yên Bái thuộc khu vực miền núi Bắc bộ nằm sâu trong lục địa. Lãnh thổ Yên Bái nằm trên toạ độ địa lý từ 21 o 24’40” đến 22o 16’32” độ vĩ Bắc, từ 103o56’26” đến 105o03’07” độ kinh Đông, nằm trải dọc theo hai bờ sông Hồng và nằm trên khu vực chuyển tiếp giữa miền Tây Bắc và miền Đông Bắc, đồng thời cũng là khu vực chuyển tiếp giữa khu vực Tây Bắc với trung du Bắc Bộ. Về phía Bắc, Yên Bái giáp với tỉnh Lào Cai, phía Nam giáp với tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp với hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, còn phía Tây giáp với tỉnh Sơn La.
Trước khi trở thành một đơn vị hành chính cấp tỉnh, Yên Bái là một địa bàn nằm trong tỉnh Hưng Hóa - một tỉnh lớn về diện tích, trải rộng khắp vùng trung du và thượng du Bắc Kỳ (khu vực Tây Bắc). Tỉnh Yên Bái ngày nay bao gồm thành phố Yên Bái, thị xã Nghĩa Lộ và 7 huyện: Yên Bình, Lục Yên, Văn Chấn, Văn Yên, Trấn Yên, Trạm Tấu, Mù Cang Chải. Yên Bái là một vùng đất có từ lâu đời.Trải qua những thăng trầm của lịch sử, Yên Bái có rất nhiều tên gọi và thay đổi về địa giới hành chính. Vùng đất cơ bản của Yên Bái xưa gồm khu vực thành phố Yên Bái ngày nay, một phần đất huyện Yên Bình và một phần đất huyện Trấn Yên.
Còn các huyện thị khác là những phần đất được sát nhập vào Yên Bái qua các thời kỳ khác nhau của lịch sử. Ngày 3/01/1976, 3 tỉnh Yên Bái - Lào Cai - Nghĩa Lộ sát nhập thành tỉnh Hoàng Liên Sơn. Ngày 1/10/1991, tỉnh Hoàng Liên Sơn chia thành hai c 8 tỉnh Yên Bái và Lào Cai. Từ khi chia tách tỉnh đến năm 1995, tỉnh Yên Bái có 8 đơn vị hành chính gồm: Thị xã Yên Bái, các huyện: Lục Yên, Yên Bình, Trấn Yên, Văn Yên, Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải.
Năm 1995, thị xã Nghĩa Lộ được thành lập nên toàn tỉnh có 9 đơn vị hành chính. Năm 2002, thị xã Yên Bái được nâng cấp lên thành phố. Từ đó đến nay, tỉnh Yên Bái bao gồm: thành phố Yên Bái; thị xã Nghĩa Lộ; các huyện: Yên Bình, Lục Yên, Trấn Yên, Văn Yên, Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải với 180 xã, phường, thị trấn. Ở vị trí cửa ngõ miền Tây Bắc của Tổ quốc, tỉnh Yên Bái là điểm dừng chân của các dòng người thiên di từ đồng bằng Bắc Bộ lên, từ phương Bắc xuống sinh cư lập nghiệp.
Hiện nay, vùng đất Yên Bái là nơi quần cư của 30 dân tộc anh em với dân số trên 785.000 người, trong đó dân tộc Kinh chiếm 54%, dân tộc Tày chiếm 17%, dân tộc Dao chiếm 9,1%, dân tộc Mông chiếm 8,1%, dân tộc Thái chiếm 6,1%. Sự phân bố dân cư các dân tộc ở Yên Bái không có lãnh thổ tộc người rõ rệt, họ sống xen kẽ với nhau. Nhưng mỗi dân tộc đều có những vùng quần tụ đông đảo của mình. Tại các vùng này dân số dân tộc đó chiếm tỷ lệ cao hơn so với dân tộc khác cùng cư trú.
Tiêu biểu là người Mông cư trú tập trung ở hai huyện Trạm Tấu và Mù Cang Chải; người Thái, người Mường ở huyện Văn Chấn, thị xã Nghĩa Lộ; người Dao ở hai huyện Văn Yên, Văn Chấn; người Sán Chay ở huyện Yên Bình; người Kinh ở thành phố Yên Bái, thị xã Nghĩa Lộ; người Tày, người Nùng ở huyện Lục Yên; người Khơ Mú ở xã Nghĩa Sơn huyện Văn Chấn; người Phù Lá ở xã Châu Quế Thượng huyện Văn Yên. Trong kỷ nguyên độc lập của Nhà nước Đại Việt, nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái đã không tiếc xương máu để bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc. Kể từ khi thành lập (11/4/1900) đến nay, tỉnh Yên Bái đã trải qua lịch sử hơn 100 c 9 năm đấu tranh, xây dựng và trưởng thành. Đáng nhớ nhất là thời kỳ đấu tranh đầy gian khổ để giành lại nền độc lập tự do, bảo vệ toàn vẹn thành quả cách mạng, kháng chiến thắng lợi, đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ, bước đầu xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội.
Dù trải qua biết bao gian nan vất vả, nhưng nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái luôn phát huy cao độ tinh thần yêu nước và yêu quê hương, đoàn kết chặt chẽ, lập nên những thành tựu lớn lao về mọi mặt góp phần vào sự nghiệp xây dựng quê hương giàu đẹp. Đất nước thống nhất, nhân dân các dân tộc Yên Bái lại đồng cam cộng khổ khắc phục hậu quả chiến tranh, bắt tay khôi phục lại nhà cửa bị tàn phá trong cuộc chiến tranh hủy diệt của kẻ thù. Từ nhiều chục năm trước đây, kinh tế Yên Bái đã năng động hướng tới mục tiêu sản xuất và cung cấp cho xã hội nhiều sản phẩm có giá trị. Hệ thống các nông trường, trang trại, đã tạo ra nhiều mặt hàng hóa quý như chè, quế, hoa quả, than, đá quý… Thắng cảnh Thác Bà cùng nhiều hang động kỳ thú, Ruộng bậc thang Mù Cang Chải, Bản sắc văn hóa dân tộc Mường Lò với các điệu xòe cổ… có sức hút mạnh mẽ các du khách từ miền trong và ngoài nước.
Bước vào thời kỳ đổi mới, Yên Bái đã mạnh dạn quy hoạch các vùng nguyên liệu, vùng cây lương thực, vùng cây lấy gỗ, vùng cây con đặc sản, vùng chăn nuôi. Nhờ đó, trên địa bàn Yên Bái, ngoài kinh tế trang trại ngày càng phát triển, đã hình thành các vùng kinh tế tập trung chuyên canh. Đã huy động được nhiều thành phần kinh tế tham gia vào sản xuất hàng tiêu dùng. Năng suất lương thực tăng.
Cây công nghiệp và lâm nghiệp phát triển. Kể từ năm 1986 trở đi, Yên Bái đã đáp ứng nhu cầu về lương thực, vật tư hàng tiêu dùng. Đội ngũ cán bộ khoa học ngày một nhiều. Sự nghiệp giáo dục, văn hóa, y tế có những tiến bộ đáng kể.
Nhờ đó đời sống, tinh thần của con người Yên Bái ngày càng được nâng cao và phát triển. c 10 Một vùng núi xa xôi của tổ quốc, với địa hình phức tạp hiểm trở, nhưng nơi đây chứa đựng nhiều yếu tố cuốn hút những cây bút văn chương tài năng và tạo nên nhiều tác phẩm văn học có giá trị. Thiên nhiên cũng là một nguồn cảm hứng vô tận thôi thúc các nhà văn cầm bút. Bên cạnh đó các cuộc chiến tranh oanh liệt đã khơi gợi tấm lòng yêu nước thiết tha của những cây bút văn chương Yên Bái.
Nhiều tác phẩm như: Bến ngòi, Âu Lâu bến lửa của Trần Cao Đàm, Kỷ vật cuối cùng của Hà Lâm Kỳ, Người về sau cuộc chiến của Nguyễn Hiền Lương.Hay sự phát triển và đổi mới của nền kinh tế cũng đã được nhiều nhà văn thể hiện trong sáng tác của mình. Như vậy, vị trí địa lý, tự nhiên và xã hội đóng một vai trò khá quan trọng trong quá trình sáng tác của các nhà văn Yên Bái. Khái lược về bản sắc văn hóa các dân tộc trên địa bàn tỉnh Yên Bái. Yên Bái là tỉnh đa dân tộc, có bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa, nơi hội tụ của những sắc màu văn hóa dân tộc độc đáo, đậm đà bản sắc thể hiện qua các lễ hội, các làn diệu dân ca, dân vũ, các nghi lễ, phong tục tập quán, chữ viết, ngôn ngữ, ẩm thực, nghề truyền thống, trang phục… Sống trên mảnh đất Yên Bái, mỗi dân tộc đều sáng tạo nên những bản sắc văn hóa riêng của mình trong nếp ở, nếp ăn, sự giao tiếp, văn học nghệ thuật và tín ngưỡng.
Đó không chỉ là niềm tự hào mà còn là giá trị đích thực của đời sống tinh thần, làm cho vườn hoa của Yên Bái đậm đà, nhiều màu sắc. Theo số liệu tổng kiểm kê di sản của ngành văn hóa năm 2011, “trên địa bàn tỉnh Yên Bái có trên 1.200 di sản văn hóa, trong đó hơn 700 di sản văn hóa vật thể và trên 400 di sản văn hoá phi vật thể”. Các di sản và lễ hội nổi tiếng của tỉnh Yên Bái được biết đến như: Nhà truyền thống và Làng cổ Pang Cáng của người Mông ở Suối Giàng; Làng cổ Viềng Công của dân tộc Thái ở Hạnh Sơn (Văn Chấn); Làng cổ Ngòi Tu của dân tộc Cao Lan, xã Vĩnh Kiên (Yên Bình). cùng các lê hội như: Lễ Tăm khẩu mẩu của người Tày (Văn c 11 Chấn), Lễ cưới của người Dao (Yên Bình), Lễ Đón hồn mẹ lúa của người Khơ Mú, xã Nghĩa Sơn (Văn Chấn).