đặt vấn đề xây dựng nẻn văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc bao hàm cả việc kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống. của cộng đồng Giáo dân cũng như tăng cường xây dựng đời sống văn hóa tại loại hình làng này. Đặc biệt, Nghị quyết 25 của Bộ Chính trị ra ngày 12 tháng 3 năm 2003 cụ thể hóa Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ VII (khóa 9) về vấn để tôn giáo, khẳng định Đảng và Nhà nước Việt Nam tạo. mọi điều kiện để tôn giáo hoạt động bình thường.
Trên cơ sở các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các. địa phương có đồng bào Công giáo (làng Công giáo toàn tòng cũng như làng vừa lương vừa giáo) đã vận dụng chỉ đạo cho sát hợp với điều kiện riêng về mọi mặt đời sống của cộng đồng giáo dân và đã đạt được những. kết quả khả quan tạo ra những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, không.
tránh khỏi những hạn cÌ it cập ở một số địa phương, cần được nghiên cứu, đánh giá một cách thấu đáo để có một hướng cùng các biện pháp chỉ đạo có hiệu quả hơn. “Thanh Hóa là một tỉnh rộng có đến 27 huyện, thị, thành phố với 630 xã, 1.792 làng, trong đó có 100 làng Công giáo toàn tòng (trên 70% dân sô theo đạo Công giáo). Nga Sơn là một trong những huyện có dân cư theo đạo Công giáo đông nhất tỉnh Thanh Hóa, và Nga Thái là một trong 4 xã ở huyện có các làng Công giáo toàn tòng. Đây là những làng cổ ven biển, được hưởng lợi phủ sa của biển đưa vào từ dòng sông Càn ngăn cách giữa Thanh Hóa và Ninh Bình.
Điều này đã tạo nên những nét văn hóa đặc trưng riêng của làng mà không có làng nào có được. “Trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay, hầu hết các quốc gia đều hết sức coi trọng vai trò của văn hóa, nhân loại nhận ra một quy luật là: muốn phát triển bền vững đều phải xác định, ngoài yếu tố vật chất còn cẳn phải đi tìm những động lực từ yếu t6 tinh than, yếu tố văn hóa. Xây dựng chiến lược phát triển văn hóa không tách rời chiến lược phát triển con người và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nghiên cứu việc về đời sống văn hóa cũng như việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở cụm làng Công giáo này nhằm tham góp một số ý kiến với cấp ủy và chính quyền, UBMTTQ, Ban tôn giáo tỉnh Thanh Hóa.
chỉ đạo tốt hơn việc vận động xây dựng đời sống văn hóa, quản lý xã hội và phát triển kinh tế ở các vùng Công giáo - một bộ phận quan trọng của các cộng đồng dân cư ở Việt Nam, tạo cho bà con có một cuộc sống lành mạnh, sống “tốt đời, đẹp đạo”, “kính Chúa, yêu nước”, đóng góp tích cực vào sự. nghiệp xây dựng và bảo vệ tô quốc hiện nay. Đây chính là lí do tôi lựa chọn đề tài “Đời sống văn hóa ở các làng. Công giáo, xã Nga Thái, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa "làm luận văn thạc sĩ của mình.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề Nghiên cứu về đời sống văn hóa ở cơ sở là đề tài được nhiều ngành khoa học quan tâm, trong đó có ngành Văn hóa học. Do vậy, vấn đề này có rất nhiều học giả quan tâm như các tác phẩm nghiên cứu. Hiện nay, đời sống văn hóa cơ sở là một thuật ngữ rất phổ biến trong công tác xây dựng văn hóa tại các địa phương trên toàn quốc. Đặc biệt các địa phương vùng núi, trung du đang được chú trọng quan tâm.
Thanh Hóa cũng là một tỉnh được Đảng và Nhà nước quan tâm tới È xây đựng đời sống văn hóa cơ sở thông qua các chủ trương, đường lối, chính sách, phong trào như “Xây dựng nông thôn mới”, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, chính những điều này đã tác động rất lớn tới đời sống văn hóa của những người dân xứ Thanh, trong đó có cả những người dân theo đạo Thiên Chúa sinh sống tại các làng công giáo nằm rải rác ở các địa phương trong tỉnh, do những điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý trong việc du nhập văn hóa của đạo Thiên chúa vào địa phận Thanh Hóa. “Trước khi chúng ta bàn đến những biến đổi trong văn hóa thì chúng. ta cần phải nghiên cứu vẻ lịch sử của vấn đề này. Các công trình bàn về đời sống văn hóa ở cơ sở' “Tác phẩm “Đời sống văn hóa cơ sở - thực trạng và những vấn đẻ cằm giải quyết "do Vụ văn hóa quần chúng, Bộ Văn hóa Thông tin và Viện Văn hóa phối hợp biên soạn (Nxb.
Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1991) đã đưa ra những luận điểm, luận thuyết chung về đời sống văn hóa cơ sở, những khái niệm, những định nghĩa được nêu ra đầy đủ, bao quát. Từ đó giúp cho những nhà nghiên cứu có được những kiến thức căn bản khi nghiên cứu về đời sống văn hóa cơ sở nói chung và tại các địa phương cụ thể nói riêng “Trong cuốn sich “Vain héa làng và Làng văn hóa Xứ Thanh "của tic giả Hoàng Anh Nhân, Lê Huy Trâm (Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996) đã đưa ra những nét đặc trưng cơ bản của các làng truyền thống ở xứ Thanh và cũng đặc biệt nói đến làng của những người dân công giáo theo đạo Thiên Chúa cùng cư trú và sinh hoạt ngay trong cộng đồng làng của những người không theo đạo. Những làng này nằm rai rác trên dia ban tỉnh Thanh Hóa, có cả ở đồng bằng và ở miền núi, tuy nhiên những làng công giáo ở địa bàn Những yếu tố cá nhân ở mỗi cộng đồng - những con người biểu hiện văn hóa: trình độ học vấn, mức phát triển nhu câu, sở thích và thị hiếu văn.
hóa, định hướng giá trị, các sinh hoạt và xử lý thời gian lao động và thời gian tự do, văn hóa ứng xử, nếp sống văn hóa, lễ nghi, lễ phép v.v Những yếu tố văn hóa của các môi trường trong những cộng đồng, (gia đình, tập thể nhỏ về lao động, học tập, quân ngũ. “Trong bắt kỳ cộng đồng nào cũng đều có môi trường văn hóa nhỏ và môi trường văn hóa lớn. Nhỏ: là môi trường văn hóa trong nhóm gia đình, trong tổ lao động, trong tổ học tập. - môi trường gần gũi nhất với những cá nhân.
Nó không phải là những môi trường văn hóa biệt lập mà là một bộ phân cấu thành trong môi trường văn hóa lớn. Còn môi trường văn hóa lớn thì có thể chia thành nhiều cấp độ: môi trường văn hóa của một xã hội toàn bộ; môi trường văn hóa của một cộng đồng bộ tộc trong một quốc gia, môi trường văn hóa của một miễn, khu vực, thành phó, thị xã, quận, huyện; môi trường văn hóa của cấp hạ tầng cơ sở xã hội (xã, phường, thôn, dp, khối phố, khu tập thể.) Đời sống văn hóa, với tính cách như môi trường văn hóa, được biểu hiện ra bằng sự hoạt động của nó, cho nên cũng có thê nói, đời sống văn hóa ở cơ sở là sự phô diễn bộ mặt hoạt động của môi trường văn hóa ở cấp địa. Phân biệt “Đời sống văn hóa "với “Văn hỏa”, “Môi trường văn hóa ” Làm rõ quan niệm và cấu trúc của đời sống văn hóa là cơ sở xác định. phạm vi, nội dung nghiên cứu của luận văn, đồng thời cũng là cơ sở để khảo sát thực trạng đời sống văn hóa của người công giáo trên địa bàn cụ thể.
Đời sống văn hóa phản ánh biểu hiện tập trung nhất các mặt của văn hóa, từ hoạt động sáng tạo, hưởng thụ đến quan niệm giá trị, tư tưởng, đạo. đức, lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo. Khái niệm đời sống liên quan chặt chẽ và là biểu hiện bản chất của. văn hóa trong quá trình vận động biến đổi của nó.
Ở nước ta khái niệm “đời sống văn hóa”thường gắn với khái niệm “đời sống văn hóa cơ sở”, khái niệm này được xuất hiện và sử dụng trong ngành văn hóa từ năm 1982. Tuy nhiên giữa hai khái niệm “đởi sống văn hóa "và “đời sống văn hóa cơ sở “cũng có sự phân biệt nhất định. Khái niệm đời sống văn hóa được các nhà nghiên cứu tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau. Trong tài liệu Xây đựng đời sống văn hóa ở cơ sở, báo cáo của Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh viết: Đời sống văn hóa nói chung là một tổng hợp những yếu tố vật thể văn hóa nằm trong những cảnh quan văn hóa, những yếu tố hoạt động văn hóa của con người, những sự tác động lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hóa trong cộng đồng.
người, trực tiếp làm hình thành lối sống của con người trong xã hội [14,tr.28] “Theo nghĩa hẹp có thể nói: Đời sống văn hóa chính là sự hoạt động của các quá trình sản xuất, phân phối, lưu giữ và tiêu thụ những tác phẩm văn hóa (sản phẩm văn hóa). Quá trình này biến các giá trị văn hóa tiểm tàng, thành những giá trị văn hóa hiện thực sao cho những giá trị văn hóa đó di vào đời sống hàng ngày của mọi người trở thành một bộ phận hợp thành không thể tách rời, một thành tổ thiết yếu của đời sống [14, tr. 27, Trong công trình nghiên cứu Aáp ván đề lý luận và thực tiễn xây dựng. văn hóa ở nước ta giáo sư Hoàng Vinh cho rằng: Đời sống văn hóa là một bộ phân của đời sống xã hội.
Đời sống xã hội là một phức thể những hoạt động sống của con người, nhằm đáp ứng nhu cầu của con người. Trong đó các hoạt động. văn hóa đáp ứng nhu cầu tỉnh thần, làm cho con người tồn tại với tư cách là một sinh thể xã hội, tức là con người tồn tại như một nhân cách văn hóa. Xã hội cảng tiến hóa, nhu cầu văn hóa và sự đáp ứng nhu cầu đó cảng cao, thể hiện trình độ phát triển của Người.
Các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu tỉnh thần của con người, đó chính là hoạt động văn hóa [50, tr62 - 163] "Như vậy, có thể hiểu: Đời sống văn hóa chính là tổng thể sống động các hoạt động văn hóa trong quá trình sáng tạo (sản xuất), bảo quản, phổ dùng các sản phẩm văn hóa và sự giao lưu văn hỏa, nhằm thỏa mãn như cầu văn hóa của một cộng đằng. 'Về một phương diện nào đó, đời sống văn hóa cũng chính là môi trường hoạt động sống của con người.