Chương 1 giới thiệu đề tài, bối cảnh chính sách, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, khung phân tích và phương pháp nghiên cứu. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết của luận văn. Chương 3 trình bày các bất cập trong chính sách quy hoạch, cấp phép thực hiện Dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A và phân tích động cơ của chủ đầu tư dự án. Chương 4 trình bày sự hình thành và tham gia của XHDS đối với Dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A.
Chương 5 là kết luận và kiến nghị chính sách.1 Xã hội dân sự 2.1 Khái niệm xã hội dân sự Theo ADB, XHDS lấp khoảng trống giữa cá nhân và chính phủ6. XHDS bao gồm các nhóm tình nguyện được tổ chức hoặc không được tổ chức, gắn kết với nhau về mặt xã hội, chính trị và kinh tế vì những lợi ích chung cho các thành viên của mình (UNDP 19977). XHDS được hình thành và phát triển dựa trên các hiệp hội truyền thống và các nhóm tôn giáo. Quá trình lịch sử cho thấy những phong trào phản đối mang tính tôn giáo, xã hội hay chính trị là nền tảng thúc đẩy sự phát triển cho các tổ chức này.
XHDS ngày nay phát triển và mở rộng hơn, bao gồm nhiều tổ chức khác nhau như nhóm tôn giáo, hiệp hội, báo chí, các câu lạc bộ, tổ chức phi Chính phủ,…Đặc điểm chung của các nhóm XHDS là được tổ chức trên mục đích những nhu cầu, lợi ích hay các giá trị truyền thống chung; hoạt động vì mục đích chung mà nhóm hướng đến. Theo ADB, “…một XHDS tích cực và mạnh là cơ sở của bốn trụ cột trong chế độ quản lý nhà nước: tính minh bạch, trách nhiệm, sự tham gia và pháp quyền…”.2 Xã hội dân sự tại Việt Nam Pháp luật Việt Nam công nhận quyền lập hội và được đảm bảo, cũng như có các quy định quản lý rõ ràng đối với hoạt động của các hiệp hội, tổ chức phi chính phủ8. Cũng như Hiến pháp (2013) tại Điều 2 quy định “…Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân… Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội 6 Ngân hàng phát triển Châu Á (2003), Phục vụ và duy trì: Cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, chương 15. 7 UNDP (1997), Human Development Report.
New York Oxford University Press. 8 Chính phủ (2003), Nghị định số 88/2003/NĐ-CP ngày 30/07/2003, Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý Hội. 7 ngũ trí thức”9. Dư luận xã hội sẽ có tiếng nói phản biện, phản hồi cho Chính phủ thông qua các tổ chức như Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Báo chi, Hiệp hội, Công đoàn,… là các tổ chức chính thức của Chính phủ, đồng thời thông qua các nhóm tổ chức dân sự như mạng xã hội, hiệp hội,.
Chính phủ là đại diện cho quyền lực của tất cả công dân trong xã hội, thông qua hoạt động của XHDS sẽ thúc đẩy việc sử dụng quyền làm chủ của người dân, góp phần quyết định và cải thiện chính sách công. Hiện nay có khoảng 300 tổ chức xã hội – nghề nghiệp đăng ký hoạt động chính thức tại Việt Nam, cùng với đó là các tổ chức hiệp hội dân sự khác đang hoạt động, các liên kết phi chính thức đa dạng khác của người dân10.3 Các loại hình tổ chức xã hội dân sự Các nhóm XHDS được chia thành các tổ chức có cơ sở và các tổ chức “trung ương”. Các tổ chức cơ sở có thể là thành phần của một tổ chức, mạng lưới hay trực thuộc liên minh trong một khu vực, quốc gia; điều này giúp việc tăng cường sức mạnh, chia sẻ kinh nghiệm,… và nâng cao tầm ảnh hưởng của mình thông qua các nhà tài trợ và Chính phủ quốc gia. Các tổ chức công đoàn nên được xem như là các hiệp hội XHDS có vai trò tiềm năng tích cực trong việc thực hiện chương trình, chính sách, thay vì như quan niệm hiện nay cho rằng cá tổ chức này như là những tác nhân tiêu cực, có khả năng làm gián đoạn hoạt động cung cấp dịch vụ công (Tendler 1997).
Các tổ chức giáo dục như các trường đại học, cơ quan nghiên cứu có thể đóng vai trò như những thiết chế dân sự hiệu quả và độc lập, hoặc cùng với sự tham gia của các tổ chức khác. Các tổ chức này có thể đảm nhận vai trò chủ chốt trong quá trình đổi mới quản lý hành chính của khu vực công, cải thiện tình trạng thiếu hụt lao động có kỹ năng cho cả khu vực công và khu vực tư nhân. 9 Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. 10 Phạm Duy Nghĩa (2013).
8 Hầu hết các tổ chức XHDS trung gian với cấu trúc truyền thống đều không có mối liên kết chặc chẽ với những công dân bình thường; trong khi đó các tổ chức cơ sở có thể gắn kết chặc chẽ với công dân. Bên cạnh đó, các tổ chức phi chính phủ bao gồm nhiều tổ chức hoạt động trên các mục đích khác nhau là một trong các tổ chức thuộc XHDS. Đây là các tổ chức có mối liên hệ chặt chẽ và quan trọng đối với các cấp chính quyền và cơ quan quốc tế ở rất nhiều nước trong việc thực hiện các hoạt động công cộng, quyền con người trong xã hội.4 Vai trò của xã hội dân sự Theo ADB, “…các tổ chức XHDS hoạt động tích cực làm tăng cường mối liên hệ giữa công dân và chính phủ, và do đó, có vai trò quan trọng đối với hiệu quả quản lý cải thiện dịch vụ công cộng…”11. Sự tham gia tích cực của XHDS sẽ giúp định hướng cải cách nền hành chính công, bao gồm: Tăng cường vai trò của các tổ chức XHDS làm thay đổi nền hành chính.
Thông qua các tổ chức giáo dục nhằm đào tạo và áp dụng các biện pháp cải tiến mới cho nền hành chính công, hay khuyến khích các tổ chức công đoàn trong bộ máy hành chính Nhà nước theo hướng tính chất xây dựng mà không phải là đối kháng. Giúp tăng cường sự hỗ trợ đối với các tổ chức cơ sở như nhóm nông dân, nhóm dân cư,… được tăng cường năng lực quản lý, bảo vệ trước những lợi ích cục bộ địa phương lôi kéo. Khuyến khích sự phát triển của các nhóm tình nguyện không chính thức cho các mục đích xã hội, đặc biệt là với nhóm người nghèo và những người bị thiệt thòi. Thừa nhận vai trò của các thiết chế truyền thống.
Thúc đẩy sự hình thành các nhóm tổ chức dân sự vì lợi ích công, và là đối trọng với những nhóm vận động hành lang có tổ chức của giới kinh doanh trước những lợi ích chung của cả xã hội. 11 Ngân hàng phát triển Châu Á (2003), Phục vụ và duy trì: Cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia.2 Các nhóm đối tượng chính có ảnh hưởng đến Dự án Thứ nhất, Chính phủ là đối tượng có quyết định mạnh nhất đối với Dự án. Việc cấp phép đầu tư đã được Chính phủ phê duyệt, đồng thời sau đó cũng đã ra quyết định dừng đối với Dự án này. Lợi ích của Chính phủ nhận được trực tiếp từ Dự án là tiền thuế được tính toán khoảng 300 tỷ đồng mỗi năm, cùng với nguồn điện năng cung cấp vào mạng lưới điện quốc gia để đáp ứng được nhu cầu điện tăng nhanh trong các năm vừa qua của đất nước.
Thứ hai, chủ đầu tư ĐLGL là đơn vị tư nhân đăng ký xin chủ trương thực hiện Dự án và đã được Chính phủ phê duyệt. Ngoài các chi phí chìm mà ĐLGL đã bỏ ra thực hiện Dự án, thì chi phí đầu tư xây dựng hai đập thủy điện Đồng Nai 6 và 6A được ước tính trên 1. Lợi ích mà ĐLGL nhận được là sản lượng điện năng bán lại cho EVN sau khi hai Dự án vào hoạt động. Thứ ba, cộng đồng dân cư vùng hạ lưu sông Đồng Nai, đại diện là UBND tỉnh Đồng Nai, đã lên tiếng phản đối việc thực hiện Dự án.
Nguyên nhân chính của sự phản đối này là hệ quả tiêu cực đối VQGCT, Khu Ramsar – Bàu Sấu,. và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế người dân. Khu vực hạ lưu sông Đồng Nai không nhận được bất cứ nguồn lợi ích nào do Dự án mang lại, nhưng hệ quả của việc thực hiện Dự án thì lại phải gánh chịu chi phí kinh tế lớn. Thứ tư, XHDS đóng vai trò quan trọng trong việc phản đối Dự án cùng với UBND tỉnh Đồng Nai.
Các tổ chức của XHDS tham gia phản biện chính sách đối với Dự án như: hiệp hội các nhà khoa học, cơ quan báo chí và truyền thông, các nhóm tổ chức tự phát bảo vệ VQGCT và dư luận xã hội tham gia thông qua mạng xã hội. Đối với nhóm đối tượng này thì nhìn chung lợi ích nhận được là nhỏ, không đáng kể vì khối lượng điện năng của Dự án cung cấp chỉ chiếm khoảng 0,3% nhu cầu điện năng quốc gia. Nhưng chi phí cho việc thực hiện Dự án là lớn, ảnh hưởng đến các giá trị của xã hội như Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai, tác động tiêu cực đến môi trường, các vấn đề liên quan đến phát triển bền vững,. NHẬN DIỆN VÀ ĐÁNH GIÁ NHỮNG BẤT CẬP TRONG HÌNH THÀNH VÀ THỰC HIỆN DỰ ÁN THỦY ĐIỆN ĐỒNG NAI 6 3.1 Giai đoạn hình thành Dự án Năm 2001, Công ty Cổ phần Tư vấn Xây dựng điện II đã tiến hành lập Báo cáo quy hoạch bậc thang thủy điện sông Đồng Nai theo chủ trương của Chính phủ12, trong đó công trình thủy điện Đồng Nai 6 với công suất lắp máy 180MW ,và được Chính phủ phê duyệt tại Công văn số 1483/CP-CN vào ngày 19/11/2002.
Dựa theo quy định này tổng diện tích đất ngập tự nhiên của lòng hồ 1.954 ha, và phần lòng hồ này sẽ lấy đất của ba tỉnh Đăk Nông, tỉnh Bình Phước và tỉnh Lâm Đồng. Phần rừng bị mất của các tỉnh bao gồm rừng gỗ, tre, cây bụi và một phần nhỏ đất nông nghiệp trong tổng diện tích chung của dự án; đặc biệt Dự án ảnh hưởng lớn đến VQGCT và khu vực Bàu Sấu. Ngoài phần diện tích lòng hồ, đường dây và các công trình phụ trợ cho Dự án khi triển khai chưa được tính đến, cho nên phần diện tích rừng bị mất đi là cao hơn nhiều so với quy hoạch dự án được phê duyệt.