CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Các nghiên cứu về chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng tái định cư cho các dự án phải di dân bắt buộc nói chung hay các dự án xây dựng thủy điện đã được tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau cả trên thế giới và tại Việt Nam.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới 1.1 Các nghiên cứu về thu hồi đất và tái định cư cho các dự án hạ tầng Nghiên cứu của Oluwamotemi (2010) về thu hồi đất, bồi thường và tái định cư tại các nước đang phát triển nghiên cứu qua trường hợp của Kenya cho thấy tại các nước đang phát triển, việc giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án là tất yếu .Tuy nhiên, việc giải phóng mặt bằng thường xuyên gặp phải các khó khăn từ phía người dân, gây mâu thuẫn giữa người dân, chủ dự án và Chính phủ. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, để giải quyết những mâu thuẫn này, Chính phủ cần lưu ý đến một số nội dung như: kinh phí bồi thường, hỗ trợ mà người dân bị thu hồi đất sẽ nhận được; vấn đề tái định cư phải được thực hiện triệt để; tạo cơ hội việc làm cho người dân bị thu hồi đất; phân chia lợi nhuận giữa người bị thu hồi đất và chủ dự án. Nhìn chung, nghiên cứu này tập trung vào đánh giá hoạt động bồi thường, thu hồi đất và giải quyết việc làm cho người dân tái định cư. Hạn chế là nghiên cứu không xây dựng mô hình đánh giá để lượng hóa ảnh hưởng của các chính sách đầu tư phát triển đến kết quả của công tác tái định cư như thế nào.
Nghiên cứu của Fernando và cộng sự (2009) về di cư bắt buộc, tái định cư, các chính sách và thực hành nghiên cứu tại Sri Lanka cho thấy người dân di dời tới nơi ở mới thường gặp khó khăn trong việc hội nhập với cộng đồng dân cư sở tại. Khôi phục sinh kế phụ thuộc rất nhiều vào trình độ lao động, môi trường lao động, vốn cho sản xuất kinh doanh. Các tác giả cũng lưu ý rằng để giải quyết vấn đề ổn định đời sống cho người dân tái định cư thì phải lưu ý đến các vấn đề trước và sau tái định cư, giải quyết công bằng trong việc thu hồi đất, hồi phụ sinh kế cho người dân đảm bảo cơ sở hạ tầng và cơ sở xã hội cho người dân tái định cư. Nghiên cứu đã thành công trong việc giải thích mối quan hệ giữa việc khôi phục sinh kế và kết quả tái định cư cho các dự án tái định cư không tự nguyện.
Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ tập trung vào nhóm các chính sách về đầu tư cho hạ tầng và giáo dục và cũng không lượng hóa ảnh hưởng của từng chính sách đến kết quả tái định cư. 9 Nghiên cứu của Ngân hàng phát triển Châu Phi và Quỹ phát triển Châu Phi (2003) về chính sách tái định cư không tự nguyện chỉ ra rằng chính sách tái định cư bắt buộc muốn thành công cần phải giải quyết được các vấn đề về: thiếu đất, thất nghiệp, vô gia cư, an ninh lương thực và tổn thất tài nguyên cơ bản đối với những người bị ảnh hưởng và cộng đồng sở tại để giảm thiểu xung đột, kiến tạo của các bên liên quan và môi trường. Mục tiêu căn bản của chính sách tái định cư bắt buộc là đảm bảo khi người dân buộc phải di dời được đối xử công bằng và cùng hưởng lợi ích liên quan từ dự án. Mục đích của chính sách là giảm thiểu tối đa tình trạng thay đổi trong đời sống của người dân ở khu vực dự án, đảm bảo người dân di dời được hỗ trợ tái định cư để cải thiện mức sống; thiết lập một cơ chế giám sát việc thực hiện chương trình tái định cư.2 Các nghiên cứu về tái định cư thủy điện Nghiên cứu của Wilmsem (2016) đánh giá sự thay đổi về mức sống theo thời gian của dự án xây dựng đập Tam Hiệp tại Trung Quốc trong nghiên cứu “After the Deluge: A longitudinal study of resettlement at the Three Gorges Dam, China/Sau địa chấn: Một nghiên cứu theo thời gian về tái định cư tại đập Tam Hiệp, Trung Quốc”.
Kết quả cho thấy sau khi hoàn thành vào năm 2015 số người phải di dời chỗ ở bắt buộc cho dự án lên đến gần 1.2 triệu người. Chính phủ Trung quốc đã sử dụng các chính sách ưu đãi để kích thích nền kinh tế của các địa phương. Với kết quả điều tra từ 521 hộ gia đình tham gia vào khảo sát ban đầu từ năm 2003 đến giai đoạn 2015 cho thấy các chính sách hỗ trợ và chính sách đầu tư của chính phủ Trung Quốc với các vùng tái định cư đã giúp cải thiện cơ sở hạ tầng về nhà ở, thu nhập, sinh kế đã được tháo gỡ. Tuy nhiên, những việc làm ổn định trước đây có xu hướng được thay thế bằng nhiều công việc tạm bợ.
Mặc dù vậy, các chính sách hỗ trợ cũng đem lại những lợi ích đáng kể với các nhóm cư dân chịu ảnh hưởng. Cụ thể là mức bất bình đẳng thu nhập đã giảm, an ninh lương thực được đảm bảo tốt hơn và các phúc lợi được cải thiện hơn so với trước di cư, đặc biệt là ở những hộ gia đình nghèo nhất. Tám chỉ tiêu đánh giá về thay đổi chất lượng cuộc sống từ các hộ gia đình bao gồm (1) mức độ hạnh phúc; (2) khả năng phát triển trong tương lai; (3) tính dễ dàng giao tiếp hay khả năng kết nối bạn bè; (4) khả năng tìm kiếm thu nhập; (5) khả năng nâng cao mức sống; (6) sự tự do lựa chọn; (7) khả năng thay đổi các quyết định tác động đến khu tái định cư và (8) mức độ tin cậy vào chính quyền đều có xu hướng tăng cao hơn so với thời điểm trước tái định cư từ các hộ gia đình khảo sát. Nhìn chung, nghiên cứu là bằng chứng cho thấy việc thực hiện tốt các chính sách đầu tư cho vùng tái định cư có thể đem lại hiệu quả cho công tác tái định cư của các hộ gia định chịu ảnh hưởng của dự án thủy điện.
Tuy 10 nhiên, điểm hạn chế của nghiên cứu là chỉ tập trung vào đánh giá sự thay đổi thu nhập của các hộ gia đình và chưa chỉ ra mức độ ảnh hưởng khác nhau của các chính sách đầu tư tới kết quả tái định cư, Nghiên cứu của Sayatham & Suhardiman (2015) về tái định cư và tạo nguồn sinh kế của dự án thủy điện Nam Mang 3 tại Lào cho thấy mối liên hệ giữa tài sản sinh kế trước và sau tái định cư với kết quả tái định cư trong nghiên cứu “Hydropower resettlement and livelihood adaptation: The Nam Mang 3 project in Laos/Tái định cư thủy điện và thích ứng sinh kế: Dự án thủy điện Nam Mang 3 tại Lào”. Kết quả nghiên cứu của các tác giả đi đến kết luận sự thay thế các tài sản sở hữu nói chung có thể cải thiện sinh kế của người dân và tiếp cận đất đai đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo ra sinh kế và là nguồn hình thành các kết quả sinh kế của người dân vùng tái định cư. Nhìn chung, nghiên cứu tập trung vào đánh giá sự thay đổi về tài sản, sinh kế của các hộ gia đình vùng tái định cư mà không lượng hóa mức ảnh hưởng khác nhau của các chính sách đầu tư phát triển đến kết quả tái định cư. Nghiên cứu của Singer và cộng sự (2014) về việc mở rộng sự tham gia của các bên liên quan vào cải thiện kết quả tái định cư bắt buộc ở các dự án xây dựng đập nước tại Việt Nam trong nghiên cứu “Broadening stakeholder participation to improve outcomes for dam-forced resettlement in Vietnam/Mở rộng sự tham gia của các bên liên quan để cải thiện kết quả cho việc tái định cư tại Việt Nam”.
Nghiên cứu tiếp cận ở khía cạnh tham gia của các bên liên quan vào việc chia sẻ lợi ích từ việc xây dựng các đập nước tại Quảng Nam như các tổ chức dân sự, tổ chức phi chính phủ dựa trên đánh giá các sáng kiến của chính phủ để cải thiện sinh kế người dân. Kết quả cho thấy, việc tái định cư để xây dựng các đập thủy điện vẫn còn kém hiệu quả do năng suất của đất nông nghiệp thay thế kém, sự quản trị tại địa phương yếu kém, khả năng tham gia hạn chế của nông dân di dời tại nơi ở mới. Nghiên cứu tập trung vào đánh giá các sáng kiến hứa hẹn thúc đẩy sinh kế ổn định hơn cho người dân phải di dời từ phía Việt Nam và sự tăng cường tham gia của các nhóm xã hội dân sự. Đánh giá đầu tiên tập trung vào sáng kiến chia sẻ doanh thu thủy điện để bảo vệ và giám sát rừng cho các hộ phải di dời; sáng kiến thứ hai là việc trao quyền liên quan đến giới tính và sự tham gia của phụ nữ; ba là, sự tiếp cận dựa trên quyền của các tổ chức xã hội dân sự liên quan đến việc vận động để đạt được sự tái phân bổ có hiệu quả đất rừng từ nhà nước quản lý cho các hộ di dân.
Nghiên cứu cho thấy việc chia sẻ lợi ích từ thủy điện có thể tạo ra dòng thu nhập bền vững cho các hộ di dân và đã được thể chế hóa nhưng nó cũng đòi hỏi chi phí giao dịch cao và kế hoạch dài hạn. Các nhà nghiên cứu cũng kết luận rằng cơ chế chia sẻ lợi ích, thúc đẩy bình đẳng giới, quyền biểu đạt và sự tham gia của các tổ 11 chức dân sự cần được mở rộng và hỗ trợ bởi luật pháp và những cố gắng giải quyết chỉ từ chính quyền địa phương là không đủ. Việc xây dựng các chương trình tái định cư cần có sự tham gia của nhiều bên có liên quan để đảm bảo lợi ích và hiệu quả xã hội. Nhìn chung, nghiên tiếp tiếp cận ở khía cạnh đảm bảo quyền lợi của các hộ gia đình di dân, đánh giá và sự tham gia của các bên liên quan đến thực hiện dự án.
Nghiên cứu không xem xét ảnh hưởng của việc thực hiện các chính sách đầu tư phát triển từ nhà nước đến kết quả công tác tái định cư và lượng hóa ảnh hưởng của các chính sách đầu tư phát triển đến kết quả tái định cư.