LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hiện nay, nghèo đói là một vấn đề mang tính toàn cầu. Giải quyết tình trạng nghèo đói không những nâng cao đời sống kinh tế mà còn cải thiện những vấn đề xã hội (VĐXH), đặc biệt là sự bình đẳng của các tầng lớp dân cư, nhất là cư dân nông thôn so với thành thị. Ở nước ta, trong các năm qua Đảng và Nhà nước luôn coi trọng công tác xóa đói giảm nghèo (XĐGN) và luôn coi đây là một chủ trương, nhiệm vụ chính trị quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng bền vững, gắn với đảm bảo công bằng xã hội.
Chính vì thế, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn về giảm nghèo được các tổ chức quốc tế và các nước đánh giá cao. Theo tiêu chuẩn và phương pháp xác định đường nghèo khổ của Ngân hàng thế giới (WB), tỷ lệ nghèo của Việt Nam giảm từ 58.4% năm 1998 và tới năm 2016 chỉ còn khoảng 9. Theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 là 2.569 hộ, tỷ lệ nghèo là 9.88%, trong đó thành phố Hà Nội, số hộ nghèo là 53.193 hộ, tỷ lệ 2. Mặc dù tình trạng đói nghèo toàn quốc giảm nhanh, nhưng thực tế hiện nay ở Việt Nam số hộ nghèo vẫn còn nhiều.
Tình trạng nghèo đói vẫn diễn ra ở nhiều nơi. Sự chênh lệch giàu nghèo giữa các khu vực nông thôn và thành thị, giữa các nhóm dân tộc và nguy cơ tái nghèo còn cao [10]. Huyện Hoài Đức là một huyện ven đô thuộc thành phố Hà Nội. Trong những năm qua tỷ lệ hộ nghèo đều giảm dần hàng năm.
Đến cuối năm 2018 số hộ nghèo giảm xuống còn 582 hộ (chiếm 0. Tuy nhiên, nguy cơ tái nghèo và phát sinh hộ nghèo mới còn cao. Chính vì vậy, vấn đề nghèo đói vẫn cần phải được quan tâm giải quyết. Đặc biệt, nghèo đói là nguyên nhân dẫn tới sự phân hóa giàu nghèo và bất bình đẳng trong xã hội ngày càng sâu sắc.
2 Trong thực tiễn, có rất nhiều cách tiếp cận đã được sử dụng để giải quyết vấn đề nghèo đói. Trong đó, cách tiếp cận của ngành công tác xã hội (CTXH) cũng đã được sử dụng để giúp cộng đồng thoát nghèo tại nhiều địa phương. Những đóng góp của nhân viên công tác xã hội (NVCTXH) trong công tác giảm nghèo ngày càng được ghi nhận bởi các nhà quản lý và cơ quan thực thi chính sách giảm nghèo. Bài học thực tiễn cho thấy nỗ lực giảm nghèo sẽ đạt được kết quả cao hơn khi các nhà quản lý và thực thi chính sách giảm nghèo chú trọng nhiều hơn tới việc nâng cao năng lực (NCNL) cho cộng đồng, giúp họ nhận thức về vấn đề nghèo đói của chính mình và xác định những nguồn lực cần thiết để có thể vượt qua nghèo đói.
Đặc biệt, hiệu quả giảm nghèo sẽ nhanh và bền vững hơn khi các nhà quản lý và thực thi chính sách nhận ra và phát huy vai trò của NVCTXH trong việc hỗ trợ cộng đồng nâng cao nhận thức về vấn đề nghèo đói hay nói cách khác giúp NCNL giảm nghèo cho cộng đồng và hỗ trợ kết nối cộng đồng tới những chính sách giảm nghèo hiện có. Đề tài nghiên cứu “Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong thực hiện chính sách giảm nghèo tại huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội” có ý nghĩa và đóng góp quan trọng. Các phát hiện của đề tài góp phần làm rõ vai trò của NVCTXH trong việc thực hiện CSGN tại huyện Hoài Đức hiện nay và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện vai trò của NVCTXH trong thực hiện CSGN. Trên cơ sở các phát hiện, đề tài đưa ra những khuyến nghị nhằm phát huy hơn nữa vai trò của NVCTXH trong việc hiện chính sách giảm nghèo hiện nay.
Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Mối quan hệ giữa nghèo đói và CTXH đã được nghiên cứu bởi Bill Jordan, Đại học Plymouth – Vương Quốc Anh. Kết quả nghiên cứu được 3 công bố trên tạp chí CTXH quốc tế (International Social Work 51 (4): 440– 452) với tiêu đề “Công tác xã hội và nghèo đói toàn cầu– Social works and world poverty” và kết quả nghiên cứu đã được xuất bản tại Los Angeles, London, New Delhi and Singapore. Trong nghiên cứu này tác giả đã chỉ ra mối quan hệ giữa vấn đề nghèo đói toàn cầu và CTXH.
Trong đó, tác giả phân tích đặc điểm của nghèo đói ở giai đoạn từ khoảng 1980 – 2000 và những đặc điểm của các giải pháp giảm nghèo theo cách tiếp cận của CTXH đã được thực hiện như thế nào ở các quốc gia. Đồng thời, nghiên cứu này cũng nhấn mạnh tới các yếu tố thuộc về năng lực cá nhân và phát triển nhân lực liên quan đến giảm nghèo. Đặc biệt, nghiên cứu này cũng đã phân tích về vốn xã hội (social capital) trong đó đề cập tới khía cạnh về sự tham gia và sự trao quyền cho cộng đồng. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tới các giá trị xã hội trong việc thúc đẩy phát triển nền kinh tế”[17].
Bài viết có tiêu đề “social work and poverty”, tạm dịch “Công tác xã hội và nghèo đói” đăng trên tạp chí CTXH của Vương Quốc Anh, số 40, ngày 1 tháng 12 năm 2010 của tác giả Greg Mantle và Dave Backwith đề cập tới mối quan hệ giữa học thuật, chính sách và thực tiễn của CTXH dựa vào cộng đồng. Tác giả lập luận rằng NVCTXH nên tham gia trực tiếp vào XĐGN và cách tiếp cận này có thể chứng minh thành công nhất trong bối cảnh NVCTXH giữ liên lạc chặt chẽ với cộng đồng địa phương, các hỗ trợ tập trung vào phòng ngừa và trao quyền. Mặc dù mối quan tâm của các nhà học thuật, chính phủ và các nhà chuyên môn đối với cách tiếp cận CTXH dựa vào cộng đồng đã giảm đi trong nhiều thập kỷ qua ở Anh, nhưng có cơ sở để tin rằng điều này có thể thay đổi và có thể rút ra bài học từ cách tiếp cận CTXH dựa vào cộng đồng ở các quốc gia khác” [19]. Vấn đề thái độ và hành động của NVCTXH cũng đã được xem xét trong nghiên cứu có tựa đề “Social works and Poverty: attitudes and actions”, 4 tạm dịch là “Công tác xã hội và nghèo đói: thái độ và hành động”, của tác giả Monica S.
Dowling, trong khuôn khổ đề tài tiến sĩ về triết học tại Đại học Sheffield, Vương Quốc Anh, công bố năm 1993. Nghiên cứu này đã xem xét thái độ của NVCTXH có ảnh hưởng như thế nào tới việc đưa ra các hành động giảm nghèo. Đồng thời xem xét các nhân tố có ảnh hưởng tới khả năng của NVCTXH trong việc đưa ra các hành động và giải pháp giảm nghèo như cấu trúc hệ thống an sinh xã hội (ASXH) và chính sách an toàn về tài chính, các chuẩn mực chủ quan và mức độ kiểm soát hành vi của NVCTXH”. Nghiên cứu này cũng xem xét tới các cách thức mà NVCTXH đương đầu với những khó khăn về tài chính thông qua thực thi quyền vận động chính sách an sinh của NVCTXH [22].
Trong khuôn khổ cuốn sách có tiêu đề “social work and poverty: a critical approach ” tạm dịch là “Nghèo đói và công tác xã hội: cách tiếp cận phê phán” của tác giả Lester Parrott, được xuất bản bởi nhà xuất bản Đại học Bristol và Nhà xuất bản chính sách, năm 2014. Tác giả cung cấp thông tin về những vấn đề mà NVCTXH và người sử dụng dịch vụ đối mặt khi họ làm việc cùng nhau. Tác giả đặt CTXH và nghèo đói trong bối cảnh lịch sử để phân tích những khái niệm và thuyết liên quan đến nghèo đói cũng như các giải pháp được áp dụng để giải quyết vấn đề nghèo đói cho người sử dụng dịch vụ. Nghiên cứu cũng đã xem xét và đánh giá Chính sách cải cách an sinh xã hội (ASXH) năm 2012 theo hướng tìm hiểu những tác động tiêu cực của chính sách này đối với người sử dụng dịch vụ và NVCTXH.
Các khía cạnh chính về CTXH và chăm lo xã hội được phân tích liên quan đến nghèo đói bao gồm tiếp cận thực phẩm, béo phì và sử dụng ma túy. Cuối cùng, nghiên cứu cũng đã xem xét tác động của toàn cầu hóa đối với CTXH và những vấn đề nghèo đói.[20] 5 Trong khuôn khổ nghiên cứu có tiêu đề: “Social work practice and the narrative of poverty”, tạm dịch là “thực hành công tác xã hội và câu chuyện nghèo đói” của tập thể tác giả: Linda Openshaw, Andrew McLane, Chase Court và Morgan Saxon có đề cập tới nguyên nhân gốc rễ của nghèo đói, ảnh hưởng của nghèo đói đến cá nhân và vai trò của các bác sĩ lâm sàng. Nghèo đói là một vấn đề được trải nghiệm hàng ngày bởi tất cả các tầng lớp của cuộc sống và trải dài trên toàn cầu. Sử dụng nhiều lý thuyết và giải thích, nghèo đói bị chia nhỏ thành các thành phần khác nhau để trình bày các khía cạnh đa chiều của sự bần cùng hóa và khám phá vai trò của CTXH.
Điều bắt buộc là các bác sĩ lâm sàng phải xem nghèo đói là một yếu tố có thể ảnh hưởng đến một khách hàng khỏe mạnh và hoạt động hàng ngày. Để mà cung cấp chăm sóc hiệu quả, bác sĩ lâm sàng phải hiểu ngôn ngữ của nghèo đói. [21] Ngân hàng thế giới (2006) đã thực hiện nghiên cứu và xuất bản cuốn sách có tiêu đề “Beyond the number: Understanding the institution for monitoring poverty reduction strategies” (Tạm dịch: Đằng sau những con số: điều tra phân tích để giám sát chiến lược xóa đói giảm nghèo), (Washington, DC) bởi tập thể tác giả: Tara Bedi, Aline Coundouel, Marcus Cox, Markus Goldstein, Nigel Thornton. Nghiên cứu đã chỉ ra nền tảng của mối quan hệ trong việc tăng cường hệ thống hướng dẫn chi tiết chiến lược giảm nghèo, qua đó xây dựng chính sách và đánh giá tác động của chính sách đối với các nước nghèo.
Phân tích thực tiễn chính sách và kết quả thu được ở một số nước Anbani, Bolivia, Guyana, Honduras ”[22]. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Cơ quan hợp tác phát triển quốc tế Thụy Điển (SIDA) (2003), có đề cập đến nghèo đói ở Việt Nam một định nghĩa rất rộng về nghèo, đã đi sâu phân tích tình hình nghèo của các nhóm nghèo ở Việt Nam, đánh giá những tác động của công cuộc đổi mới đến người nghèo gắn liền với việc tiếp cận các 6 vấn đề y tế, giáo dục, tín dụng. Từ đó đưa ra một số vấn đề có ý nghĩa chiến lược cần xem xét để nâng cao hiệu quả giảm nghèo ở Việt Nam [2].