Chương 1: Nguồn nhân lực nữ chất lượng cao và vai trò của nó trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay. Chương 2: Phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao trong quá trình trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thanh Hóa hiện nay - Thực trạng, một số vấn đề đặt ra và giải pháp. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NGUỒN NHÂN LỰC NỮ CHẤT LƢỢNG CAO VÀ VAI TRÕ CỦA NÓ TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƢỚC TA HIỆN NAY 1. Một số vấn đề lý luận về nguồn nhân lực nữ chất lƣợng cao và những nhân tố tác động đến việc phát triển nguồn nhân lực nữ chất lƣợng cao 1.
Quan niệm về nguồn nhân lực 1. Khái quát quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về con người và vai trò của con người Con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau. Mỗi ngành khoa học nghiên cứu con người ở những góc độ riêng, tùy thuộc vào tính đặc thù của ngành khoa học đó. Triết học với tư cách là hệ thống lý luận chung nhất mang tính phổ quát, tiếp cận con người với tư cách là một chỉnh thể, xác định con người trong tính hiện thực của nó nhằm nhận thức, cải tạo tự nhiên, xã hội và cả chính bản thân con người.
Đề cập đến con người trong lịch sử triết học Đông - Tây trước Mác đã có nhiều quan niệm khác nhau và phần nào đã vạch ra được nguồn gốc, bản chất của con người, nhưng nhìn chung đang còn nhiều hạn chế nhất định. Triết học Macxit trên cơ sở tiếp thu, kế thừa có chọn lọc những di sản lý luận trước đó và những thành tựu của khoa học tự nhiên, xuất phát từ con người hiện thực và hoạt động thực tiễn để xem xét bản chất con người. Trong quan niệm của triết học Mácxít, con người là một thực thể trong sự thống nhất biện chứng giữa cái tự nhiên và cái xã hội. Con người sinh ra từ tự nhiên, tuân theo các quy luật tự nhiên, đồng thời con người tồn tại và phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Luận đề nổi tiếng về con người được C.Mác viết trong Luận cương về Phoi-ơ bắc: “Bản chất con người không phải là một cái gì trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực cuả nó, bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội” [36, tr. Với quan niệm đó, C.Mác chỉ ra rằng bản chất con người không phải là trừu tượng mà là hiện thực, không phải tự nhiên mà là lịch sử. Con người là một thực thể thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội, nhưng 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com yếu tố xã hội mới là bản chất đích thực của con người.
Ở đây, cá nhân được hiểu với tư cách là những cá nhân sống, là người sáng tạo ra các quan hệ xã hội; Sự phong phú của mỗi cá nhân tùy thuộc vào sự phong phú của những mối liên hệ xã hội của nó. Hơn thế, mỗi cá thể là sự tổng hợp không chỉ của các quan hệ hiện có, mà còn là lịch sử của các quan hệ đó. Thông qua hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi tự nhiên, xã hội, biến đổi chính bản thân mình và đã làm nên lịch sử của xã hội loài người. Sở dĩ nhân tố con người có vai trò quyết định trong các yếu tố của lực lượng sản xuất, trước hết là do năng lực sáng tạo, trí tuệ của bản thân con người có một tiềm năng vô tận.
Cấu tạo não người có khoảng 14 tỷ nơ ron thần kinh, trong đó mới chỉ có 5% nơ ron thần kinh được sử dụng trong suốt cả cuộc đời. Như nhà tương lai học, nhà quản lý Alvin toffer đã nhận xét: “Mọi nguồn lực tự nhiên đều có thể khai thác cạn kiệt, chỉ riêng có trí tuệ là vô tận, bởi tri thức có tính chất không bao giờ hết được” [50, tr. Khái niệm về nguồn nhân lực Theo Từ điển Tiếng Việt: Nguồn lực là nơi phát sinh, nơi cung cấp. Nhân lực là sức của con người bao gồm: sức lực cơ bắp (thể lực), trình độ tri thức được vận dụng vào quá trình lao động của mỗi cá nhân (trí lực), những ham muốn, hoài bão của bản thân người lao động hướng tới một mục đích xác định (tâm lực).
Nhân lực với ý nghĩa đầy đủ của nó bao gồm ba yếu tố có sự liên hệ biện chứng với nhau đó là thể lực, trí lực, tâm lực. Nguồn nhân lực được hiểu là nơi phát sinh, nơi cung cấp con người trên đầy đủ các phương diện cho lao động sản xuất. Cho dù có tên gọi khác nhau, nguồn lực con người hay nguồn nhân lực thì giữa chúng vẫn có cùng một nghĩa. Hiện nay, khi nói về khái niệm nguồn nhân lực (nguồn lực con người) thì có nhiều quan niệm khác nhau: - Tổ chức Ngân hàng thế giới (World Bank) cho rằng: “Nguồn nhân lực là toàn bộ “vốn người” (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp,.) mà mỗi cá nhân sở hữu.
Nguồn lực con người được coi như là một nguồn vốn có bên cạnh các nguồn vốn khác như tài chính, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên,. - Tổ chức Liên hiệp quốc (UNESCO) cho rằng: “nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng" [2, tr. Việc quản lý và sử dụng nguồn lực nhiên con người là một thực thể sinh vật - xã hội, rất nhạy cảm với những tác động qua lại của mọi mối quan hệ tự nhiên, kinh tế - xã hội diễn ra trong môi trường sống của họ. Phạm Minh Hạc cho rằng: “nguồn lực con người được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất” [17, tr.
Đoàn Văn Khái cho rằng: “Nguồn nhân lực là khái niệm dùng chỉ số dân, cơ cấu dân số và nhất là chất lượng con người với tất cả các đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội” [30, tr. Trong Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII cũng khẳng định: “Nguồn lực con người là người lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến, gắn liền với nền khoa học, công nghệ hiện đại” [21, tr. Như vậy ta thấy, do nhiều cách tiếp cận khác nhau nên đã có nhiều khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực. Tuy nhiên, cho dù có quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhưng những khái niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản: nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng và năng lực của con người được huy động vào trong quá trình lao động sản xuất và phát triển của một quốc gia hay địa phương.
Dựa trên những quan niệm nêu trên và gắn với góc độ nghiên cứu đề tài, có thể hiểu: Nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, một địa phương với những năng lực thể chất, tinh thần, trình độ tri thức, năng lực thực tế, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, tác phong lao động,. đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần thúc đẩy sự phát triển của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Quan niệm về nguồn nhân lực nữ Hiểu theo nghĩa rộng: nguồn nhân lực nữ bao gồm tổng hòa các tiêu chí của bộ phận dân số nữ đang có khả năng tham gia vào quá trình lao động xã hội và các thế hệ phụ nữ nối tiếp sẽ phục vụ xã hội. Nói cách khác, nguồn nhân lực nữ được hiểu không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động nữ đã có và sẽ có, mà còn bao gồm 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sức mạnh trí tuệ, thể chất, tinh thần của các cá nhân nữ trong một cộng đồng, quốc gia được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội.
Nguồn nhân lực nữ - theo nghĩa hẹp - với tư cách là lực lượng lao động của xã hội, bao gồm nhóm phụ nữ đến tuổi lao động trở lên có khả năng lao động. Pháp luật Việt Nam quy định độ tuổi lao động đối với nữ (nữ từ đủ 15 đến hết 55 tuổi, nam từ đủ 15 đến hết 60 tuổi) nên mặc dù dân số nữ thường xuyên cao hơn (thường chiếm trên 51% dân số) song, lực lượng lao động nữ lại thường xuyên chiếm tỷ lệ nhỏ hơn (khoảng 49% lao động xã hội). Vì tuổi nghỉ hưu của lao động nữ sớm hơn nam 5 năm nên tỷ lệ lao động nữ luôn thấp hơn nam. Nguồn nhân lực chất lượng cao Bàn về khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao hiện có diễn đạt khác nhau.
Có ý kiến cho rằng, nguồn nhân lực chất lượng cao là những người có khả năng hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc nhất, sáng tạo và hoàn hảo nhất, có đóng góp thật sự hữu ích cho công việc, cho xã hội. Ở Việt Nam, cụm từ NNLCLC mới được đề cập nhiều từ khi nước ta nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và chính thức được nhắc đến trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam để khẳng định sự hiện diện của một bộ phận nhân lực đầu tàu trong quá trình phát triển của đất nước: “Thông qua việc đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển NNLCLC, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam” [13, tr. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng ta lại khẳng định: “Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là NNLCLC là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước” [14, tr. Từ quan điểm trên cho thấy nhận thức của Đảng ta về NNLCLC ngày càng đầy đủ và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.
Coi phát triển NNLCLC chính là khâu đột phá để đưa Việt Nam sớm nhiều cách thoát khỏi tình trạng nước kém phát triển và vươn lên trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.