Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM – HOA KỲ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở HOA KỲ 1. Khái quát về mối quan hệ Việt Nam - Hòa Kỳ 1. Giai đoạn từ 1975 trở về trước Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đã manh nha từ thế kỷ 19, năm 1832, khi Edmund Robert, đặc phái viên của tổng thống Hoa Kỳ, Andrew Jackson (1829 - 1837), được giao nhiệm vụ đến đàm phán và ký kết một Hiệp ước thương mại với Nam Kỳ. Dưới thời vua Tự Đức, năm 1873, Bùi Viện được cử sang Hoa Kỳ nhằm đề nghị Hoa Kỳ giúp đỡ Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược.
Tuy nhiên, vì những lý do lịch sử mà cả hai cuộc viếng thăm nêu trên đều không đạt được mục đích như mong đợi. Dù vậy, đây cũng có thể được xem là những tiếp xúc ngoại giao đầu tiên giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Hoa Kỳ trở thành một cường quốc, có vai trò chi phối các nước tư bản khác trên thế giới. Thấy được điều đó, Đảng, Chính phủ ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệt để tranh thủ ảnh hưởng của Hoa Kỳ đối với các nước tư bản khác trong việc công nhận về mặt ngoại giao đối với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Cụ thể, thời kỳ Cách mạng tháng Tám – 1945, Hồ Chủ Tịch đã 8 lần gửi thông điệp, thư, điện cho Tống thống, Ngoại trưởng và Chính phủ Hoa Kỳ tha thiết đề nghị Hoa Kỳ công nhận nền độc lập của Việt Nam và ngăn chặn cuộc chiến tranh xâm lược trở lại của Pháp ở Đông Dương. Đây được xem là cơ hội đặc biệt thuận lợi cho phía Việt Nam chủ động tạo nên để mở ra một trang mới trong quan hệ giữa hai nước. Nhưng tiếc thay, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà phía Hoa Kỳ đã cự tuyệt các đề nghị đầy thiện chí và hợp tình hợp lý của phía Việt Nam. Sau một thời gian dài đứng đằng sau Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, năm 1954, trước thất bại của Pháp, Hoa Kỳ đã từng bước thay chân Pháp và phát động một cuộc chiến tranh mới ở Việt Nam và Đông Dương với quy mô lớn hơn và mức độ ác liệt hơn.
Cuộc chiến tranh này kéo dài 21 năm ròng từ 1954 đến 1975. Đây 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thực sự là một cuộc chiến tranh tốn kém và bi thảm vì – như McNamara đã tổng kết – “chúng ta đã mất 58.000 người cả nam lẫn nữ, nền kinh tế của chúng ta bị tàn phá bởi những chi phí cao và bất hợp lý cho cuộc chiến tranh trong nhiều năm liền; và sự thống nhất chính trị của xã hội của chúng ta bị tan nát và hàng thập kỷ sau vẫn không khôi phục nổi”3. Thực tế, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần bày tỏ lòng yêu chuộng hòa bình để giải quyết vấn đề chiến tranh Đông Dương, song chính phủ Hoa Kỳ, qua năm đời tổng thống khác nhau, thay vì đáp lại thiện chí của phía Việt Nam, đã tiến hành hàng loạt các chiến lược chiến tranh thực dân kiểu mới ở chiến trường Việt Nam như chiến tranh đơn phương, chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ và Việt Nam hóa chiến tranh nhằm chinh phục Việt Nam bằng sức mạnh. Đây chính là sự tiếp tục chính sách thù địch truyền thống của Hoa Kỳ đối với cách mạng Việt Nam, nhưng các chiến lược của Mỹ đều bị quân và dân ta đập tan, và Mỹ đã tất yếu phải nhận thất bại.
Giai đoạn 1975 - 1995 Sau khi miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975), đất nước Việt Nam thống nhất, độc lập, có chủ quyền đi lên chủ nghĩa xã hội đã một lần nữa thể hiện thiện chí hòa giải của mình và mong muốn bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ và tạo những tiền đề, điều kiện vô cùng thuận lợi để phía Hoa Kỳ có thể nhanh chóng bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Thiện chí này được Thủ tướng Phạm Văn Đồng tuyên bố lại trong kỳ họp quốc hội vào tháng 7/1975 rằng Việt Nam mong muốn bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ. Đây có thể nói chính là những động thái đầu tiên thể hiện thiện chí hòa giải của Việt Nam. Nhưng đáp lại thiện chí đó, Hòa Kỳ lại một lần nữa tiếp tục thi hành chính chính sách thù địch, gây khó khăn và cản trở quá trình bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam; và hơn thế nữa tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động bao vây, cô lập và cấm vận chống một nhà nước Việt Nam độc lập, thống nhất, có chủ quyền.
McNamara (1995), Nhìn lại quá khứ: Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam, Hồ Chí Hạnh dịch, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 313 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngay sau ngày 30/04/1975, Hoa Kỳ đã tuyên bố, không thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam thống nhất; mở rộng phạm vi áp đặt lệnh cấm vấn đối với miền bắc Việt Nam từ năm 1964 ra toàn bộ lãnh thổ Việt Nam; phong tỏa toàn bộ tài sản trị giá khoảng 70 – 75 triệu đô la Mỹ của chính quyền ngụy quyền Sài Gòn tại Mỹ. Từ năm 1978, cho rằng “Việt Nam xâm lược Campuchia”, Hoa Kỳ đòi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia. Mọi liên hệ trực tiếp Việt Nam – Hoa Kỳ lại bị đình trệ và trở nên căng thẳng.
Hoa Kỳ thực hiện cấm vận quốc tế đối với nước ta, thông qua việc thi hành chính sách “siết chặt đinh ốc”, cùng với các thế lực phản động quốc tế đẩy mạnh hơn việc phong tỏa, cô lập, bao vây, cấm vận Việt Nam, gây thêm khó khăn cho Việt Nam khi vừa thoát ra khỏi chiến tranh, chưa kịp hàn gắn các vết thương do chiến tranh để lại. Sau sự kiện Việt Nam rút hết quân tình nguyện khỏi Campuchia và Hiệp định Paris về hòa bình ở Campuchia, được ký kết ngày 23/10/1991, với sự tham gia của cả Hoa Kỳ, Việt Nam và nhiều nước khác cùng Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ đã thực hiện một số hành động thiện chí bước đầu nhằm bình thường hóa quan hệ với Việt Nam như: Tuyên bố hủy bỏ lệnh cấm du lịch có tổ chức vào Việt Nam, đồng thời cho phép Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ (USAID) được trực tiếp viện trợ nhân đạo cho Việt Nam (04/12/1991), tiếp theo là việc Hoa Kỳ công bố viện trợ cho Việt Nam 3 triệu đô la Mỹ để đáp lại thiện chí của Việt Nam trong vấn đề POW/MIA; bãi bỏ tất cả hạn chế đối với các tổ chức phi chính phủ (NGO) vào Việt Nam và cho phép được xuất sang Việt Nam những hàng hóa thuộc khuôn khổ danh mục những hàng hóa đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con người (29/04/1992). Ngày 14/12/1992, tổng thống G. Bush tuyên bố nới lỏng thêm lệnh cấm vận của Hoa Kỳ.
Theo đó các công ty và giới kinh doanh Hoa Kỳ được phép vào Việt Nam để thăm dò, tìm hiểu khả năng, điều kiện kinh doanh, ký kết các hợp đồng và mở văn phòng đại diện. Sau khi chính thức nhậm chức Tổng thống Hoa Kỳ vào tháng 1/1993. Ngày 03/02/1994, Tổng thống Bill Clinton đã tuyên bố chính thức bãi bỏ lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam và đồng ý mở cơ quan liên lạc giữa hai nước. Tuyên bố 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com này được phía Việt Nam cũng như dư luận Mỹ và quốc tế hết sức hoan nghênh và ủng hộ.
Đối với Hoa Kỳ đó là một quyết định phải trải qua một quá trình lâu dài mới có được, còn đối với nhân dân Việt Nam và thế giới một quyết định như vậy lẽ ra phải được công bố từ lâu. Ngày 11/07/1995, Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton đã ra tuyên bố việc Hoa Kỳ chính thức bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Đây là một quyết định quan trọng, phản ánh nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân Mỹ muốn khép lại quá khứ, chiến tranh, xây dựng mối quan hệ bình thường, hữu nghị và hợp tác với Việt Nam. Quyết định này đã mở ra một kỷ nguyên mới trong quan hệ hợp tác giữa hai nước Việt Nam – Hoa Kỳ, kỷ nguyên của hợp tác và cùng phát triển.
Giai đoạn từ 1995 đến nay Việc Việt Nam và Hoa Kỳ tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao tháng 7/1995 đã mở ra một thời kỳ mới để đẩy mạnh và phát triển các mối quan hệ trên nhiều lĩnh vực giữa hai nước bao gồm chính trị - ngoại giao, thương mại, đầu tư, văn hóa, giáo dục và nhiều lĩnh vực khác nữa. Trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao Trong 15 năm qua, kể từ ngày hai nước tuyên bố bình thường hóa và thiết lập quan hệ ngoại giao, lĩnh vực chính trị - ngoại giao có thể nói là lĩnh vực diễn ra các hoạt động sôi nổi nhất với hàng loạt các cuộc tiếp xúc và thăm viếng lẫn nhau giữa hai nước đã diễn ra, nhằm thúc đẩy quan hệ song phương lên những tầm cao mới. Các chuyến viếng thăm của các nhà lãnh đạo cao cấp của Việt Nam đến Mỹ phải kể đến như đoàn của Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm (1998, 2000), Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Tấn Dũng (2001), Phó Thủ tướng Vũ Khoan (2003), Thủ tướng Phan Văn Khải (6/2005), Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Gia Khiêm (3/2007); Chủ tịch Nguyễn Minh Triết (7/2007), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (6/2008) và nhiều đoàn cấp cao khác. Phía Mỹ cũng cử nhiều đoàn cấp cao thăm Việt Nam: Ngoại trưởng W.
Christopher (1995); Cố vấn an ninh quốc gia A. Lake (1996); Ngoại trưởng M. Albright (1997); Bộ trưởng Quốc phòng W. Cohen (2000); Tổng thống Bill Clinton (tháng 11/2000); Ngoại trưởng C.
Powell (2001); Chủ tịch Hạ viện 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hastert (tháng 4/2006); Bộ trưởng Quốc phòng D. Rumsfeld (6/2006); Bộ trưởng Tài chính H. Paulson (9/2006); Ngoại trưởng C.
Rice, Tổng thống G. Tiêu biểu cho các hoạt động thăm viếng diễn ra sôi nổi là chuyến thăm chính thức của Tổng thống Hoa Kỳ, Bill Clinton đến Việt Nam vào tháng 11/2000. Đây là một sự kiện lớn trong lịch sử quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ nói chung và quan hệ chính trị - ngoại giao Việt Nam – Hoa Kỳ nói riêng. Đây là chuyến thăm đầu tiên trong lịch sử của một tổng thống Hoa Kỳ đương nhiệm đến nước Việt Nam độc lập và thống nhất.