Tổng quan nghiên cứu
Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới theo Quyết định số 800/QĐ-TTg đặt mục tiêu đến năm 2015 có 20% số xã và đến năm 2020 có 50% số xã trên toàn quốc đạt chuẩn nông thôn mới. Nhằm tìm kiếm mô hình thực tiễn hiệu quả, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã chỉ đạo triển khai thí điểm tại 11 xã thuộc 11 tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng sinh thái kinh tế khác nhau. Vấn đề cốt lõi đặt ra trong quá trình triển khai là làm thế nào để người nông dân thực sự trở thành chủ thể phát triển, tránh khuynh hướng áp đặt hành chính từ trên xuống dẫn đến sự lãng phí nguồn lực và thiếu tính bền vững.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Nhân học của tác giả Hoàng Cao Phúc, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Văn Sửu tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, tập trung giải quyết ba mục tiêu nghiên cứu cụ thể: làm rõ vị thế và vai trò của cộng đồng trong từng giai đoạn xây dựng nông thôn mới; phân tích các yếu tố động lực thúc đẩy hoặc cản trở sự tham gia của người dân; đánh giá mối quan hệ tương tác đa chiều giữa chính quyền địa phương, các đoàn thể chính trị - xã hội và người dân cơ sở.
Phạm vi nghiên cứu được xác định tại thôn Tân Mỹ, xã Thụy Hương, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội trong khung thời gian từ năm 2009 đến năm 2014, trọng tâm là giai đoạn thí điểm 2009 - 2011 theo Quyết định số 4721/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội. Nghiên cứu mang ý nghĩa học thuật và thực tiễn sâu sắc, cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng về sự chuyển dịch thu nhập bình quân từ 9,1 triệu đồng lên 25 triệu đồng mỗi người mỗi năm, đồng thời đánh giá toàn diện việc hoàn thành 19/19 tiêu chí quốc gia, khẳng định sự tham gia của cộng đồng là thước đo quyết định sự thành bại của chính sách nông thôn mới.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng đa dạng các khung lý thuyết hiện đại trong nhân học và xã hội học phát triển để luận giải về sự tham gia của người dân. Trọng tâm là mô hình nấc thang tham gia tám bậc của tác giả Sherry Arnstein, phân chia mức độ dự phần của công dân từ không tham gia (vận động lôi kéo, trị liệu), tham gia hình thức (cung cấp thông tin, tham vấn, xoa dịu) đến mức độ trao quyền thực chất (cộng tác, ủy quyền, kiểm soát tối cao). Bên cạnh đó, luận văn tích hợp lý thuyết phát triển cộng đồng từ dưới lên của Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang, nhấn mạnh năng lực tự quản và việc khơi dậy sáng kiến nội tại của người dân bản địa nhằm giảm tính độc quyền quản lý vĩ mô. Đồng thời, khung phân tích sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Anh được sử dụng để phân tích cách người dân biến đổi năm nguồn vốn cơ bản thành các chiến lược thích ứng với quá trình hiện đại hóa.
Các khái niệm chính được làm rõ bao gồm: khái niệm nông thôn và nông thôn mới theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW; khái niệm cộng đồng với hai chiều kích cộng đồng tính và cộng đồng thể; khái niệm sự tham gia như một quyền cơ bản của con người trong quản lý xã hội.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập từ đợt điền dã dân tộc học thực địa kéo dài 01 tháng (từ ngày 16/9/2015 đến ngày 16/10/2015) tại thôn Tân Mỹ, kết hợp dữ liệu thứ cấp từ các văn bản pháp quy của Chính phủ, báo cáo tổng kết của Ban Chỉ đạo nông thôn mới huyện Chương Mỹ và Ban Quản lý xã Thụy Hương.
Cỡ mẫu nghiên cứu định tính bao gồm 30 cá nhân được phỏng vấn sâu trực tiếp. Trong đó có 05 cán bộ đại diện Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã và Ban lãnh đạo thôn; 25 người dân thuộc các nhóm xã hội đa dạng như nông dân thuần túy, thợ thủ công làng nghề mộc, tiểu thương kinh doanh dịch vụ và hội viên Hội Người cao tuổi. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm tiếp cận các chủ thể am hiểu sâu sắc về từng dự án xây dựng cụ thể. Tác giả sử dụng kỹ thuật quan sát tham dự tại các ngõ xóm và cuộc họp thôn để trực tiếp kiểm chứng mức độ tương tác xã hội. Việc lựa chọn phương pháp nhân học định tính giúp tác giả thấu hiểu sâu sắc động cơ nội tâm, tâm lý cộng đồng và các mối quan hệ quyền lực thực tế tại cơ sở.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, diện mạo hạ tầng giao thông và thủy lợi có sự bứt phá vượt bậc nhờ sự phối hợp giữa Nhà nước và cộng đồng. Xã Thụy Hương đã hoàn thành 5,8 km đường trục xã (vượt 1,22 km so với đề án gốc), đạt 100% tỷ lệ bê tông hóa 2,9 km đường thôn và 3,97 km đường ngõ xóm, đồng thời cứng hóa 10,4 km đường nội đồng. Về thủy lợi, địa phương kiên cố hóa được 7,3 km kênh mương tưới tiêu, đạt 137% so với kế hoạch ban đầu 5,33 km.
Thứ hai, cơ cấu kinh tế chuyển biến mạnh mẽ, nâng cao đời sống cư dân. Thu nhập bình quân đầu người tại xã tăng từ 9,1 triệu đồng năm 2008 lên 21,3 triệu đồng năm 2011, đạt 24 triệu đồng năm 2013 và chạm mốc 25 triệu đồng năm 2014, tương đương mức tăng gần 2,75 lần. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ trên 7% xuống còn 4% năm 2011 và tiếp tục hạ xuống 3,01% năm 2013 với 60 hộ.
Thứ ba, sự tham gia của người dân thể hiện rõ nét nhất ở khâu đóng góp nguồn lực và giám sát thi công. Ngành điện lực đầu tư trên 4 tỷ đồng nâng cấp 6 km đường dây hạ thế và trạm biến áp, cùng với việc hoàn thành 7/7 nhà văn hóa thôn đạt quy chuẩn 250 chỗ ngồi. Tại thôn Tân Mỹ với 256 hộ dân và 40 cơ sở làm nghề mộc, người dân đã tự nguyện hiến đất thổ cư, đóng góp hàng nghìn ngày công lao động và tham gia kiểm tra vật liệu xây dựng đường xóm.
Thảo luận kết quả
Sự tham gia tích cực của cộng đồng thôn Tân Mỹ xuất phát từ động lực lợi ích kinh tế trực tiếp. Hệ thống đường bê tông liên thôn và rãnh thoát nước có nắp đậy giúp 40 hộ làm nghề mộc vận chuyển nguyên vật liệu gỗ thuận tiện, giảm thiểu chi phí hao mòn xe cộ và hạn chế ô nhiễm môi trường. Khi so sánh với kinh nghiệm phong trào Mỗi làng một sản phẩm của Nhật Bản hay phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc, Thụy Hương đã bước đầu khơi dậy được tinh thần tự lực của nhân dân.
Tuy nhiên, khi đối chiếu với nấc thang tham gia của Sherry Arnstein, mức độ tham gia của người dân Tân Mỹ chủ yếu tập trung ở bậc 4 (tham vấn), bậc 5 (xoa dịu) và bậc 6 (cộng tác). Ở khâu lập quy hoạch tổng thể 1/500 và thiết kế dự án, quyền quyết định thực tế vẫn thuộc về cơ quan tư vấn chuyên môn và Ban Quản lý cấp xã. Sự tham gia của người dân ở giai đoạn đầu chỉ mang tính chất nghe thông báo và góp ý hình thức. Để minh họa trực quan, các chỉ số phát triển hạ tầng và mức tăng trưởng thu nhập 2,75 lần có thể được trình bày qua biểu đồ cột so sánh tiến trình 2008 - 2014, kết hợp bảng ma trận phân tích vai trò các bên liên quan để làm nổi bật mức độ trao quyền trong từng tiêu chí.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế trao quyền và quy chế dân chủ cơ sở. Ủy ban nhân dân xã Thụy Hương và Ban Quản lý nông thôn mới cần chuyển dịch từ hình thức thông báo một chiều sang cơ chế đồng thuận từ dưới lên. Đơn vị cần tổ chức lấy ý kiến biểu quyết công khai của tối thiểu 90% đại diện hộ gia đình trước khi phê duyệt danh mục công trình hạ tầng mới trong quý 1 năm 2017.
Thứ hai, đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động bền vững. Phòng Kinh tế huyện Chương Mỹ phối hợp với Trung tâm Khuyến nông thành phố Hà Nội tổ chức các khóa tập huấn kỹ thuật thâm canh rau an toàn 79,5 ha, vùng hoa chất lượng cao 9,5 ha và hỗ trợ kỹ thuật chế tác cho 40 hộ mộc thôn Tân Mỹ, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt mức trên 55% vào cuối năm 2018.
Thứ ba, củng cố và đổi mới mô hình hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp. Ban Quản lý xã Thụy Hương cần liên kết chặt chẽ 3 hợp tác xã chuyên ngành gồm hoa, rau an toàn và cây ăn quả với 10 doanh nghiệp chế biến tại nội thành Hà Nội, phấn đấu nâng thu nhập bình quân đầu người cán mốc 35 triệu đồng mỗi năm vào năm 2020.
Thứ tư, nâng cao năng lực của Ban Giám sát đầu tư cộng đồng. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã và Chi hội Người cao tuổi thôn Tân Mỹ cần thiết lập kế hoạch thanh tra định kỳ 100% các dự án duy tu công trình công cộng, đảm bảo minh bạch tài chính và duy trì tỷ lệ 0% thất thoát vốn trong giai đoạn 2017 - 2020.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm thứ nhất là cán bộ quản lý nhà nước và Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới từ cấp trung ương đến cơ sở. Luận văn cung cấp mô hình thực tiễn từ 11 xã điểm toàn quốc, giúp các nhà hoạch định chính sách nắm bắt bài học kinh nghiệm về quản lý 19 tiêu chí và phương thức huy động vốn xã hội hóa hiệu quả tại các xã vùng ven đô.
Nhóm thứ hai là các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học thuộc các ngành Nhân học, Xã hội học, Quản lý công và Phát triển nông thôn. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp điền dã định tính 30 mẫu phỏng vấn sâu cùng cách vận dụng khung lý thuyết nấc thang tham gia của Arnstein.
Nhóm thứ ba là lãnh đạo chính quyền cấp xã và ban lãnh đạo các thôn làng. Người đọc có thể học hỏi quy trình tổ chức sinh hoạt cộng đồng tại 7 thôn của xã Thụy Hương để khơi dậy tinh thần tự nguyện hiến đất, đóng góp ngày công và giảm thiểu khiếu kiện đất đai.
Nhóm thứ tư là các tổ chức phi chính phủ và chuyên gia dự án phát triển cộng đồng. Dữ liệu thực chứng về sinh kế của 256 hộ dân thôn Tân Mỹ hỗ trợ thiết kế các chương trình can thiệp hỗ trợ nghề mộc truyền thống và đa dạng hóa thu nhập nông thôn.
Câu hỏi thường gặp
Câu hỏi thứ nhất: Luận văn tiếp cận nghiên cứu chương trình nông thôn mới dưới góc nhìn chuyên ngành nào?
Trả lời: Luận văn tiếp cận dưới góc độ Nhân học phát triển, tập trung phân tích hành vi ứng xử, vai trò vị thế và các mối quan hệ xã hội của người dân nông thôn. Qua đợt thực địa 01 tháng với 30 cuộc phỏng vấn sâu tại thôn Tân Mỹ, tác giả làm rõ bản chất tương tác giữa cộng đồng và bộ máy hành chính cơ sở thay vì chỉ dừng lại ở các số liệu kỹ thuật xây dựng thuần túy.
Câu hỏi thứ hai: Xã Thụy Hương giữ vai trò như thế nào trong chương trình thí điểm xây dựng nông thôn mới của cả nước?
Trả lời: Thụy Hương là 1 trong 11 xã điểm được Ban Bí thư Trung ương Đảng lựa chọn thí điểm toàn quốc giai đoạn 2009 - 2011 theo Thông báo số 238-TB/TW. Xã đại diện tiêu biểu cho khu vực nông thôn ven đô đồng bằng Bắc Bộ, nơi có sự chuyển dịch mạnh mẽ từ nông nghiệp 46,8% lao động sang phát triển làng nghề và tiểu thủ công nghiệp.
Câu hỏi thứ ba: Kết quả nổi bật nhất về chuyển đổi kinh tế mà địa phương đạt được trong giai đoạn nghiên cứu là gì?
Trả lời: Thành tựu kinh tế nổi bật là thu nhập bình quân đầu người tăng trưởng vượt bậc từ 9,1 triệu đồng năm 2008 lên 25 triệu đồng năm 2014, tương đương mức tăng 2,75 lần. Cùng với đó, tỷ lệ hộ nghèo tại xã giảm từ trên 7% xuống còn 3,01% năm 2013, giúp địa phương hoàn thành xuất sắc tiêu chí số 10 và 11 trong Bộ tiêu chí quốc gia.
Câu hỏi thứ tư: Người dân thôn Tân Mỹ tham gia tích cực nhất vào các hoạt động nào của đề án?
Trả lời: Người dân Tân Mỹ tham gia sôi nổi nhất vào việc đóng góp tài chính, hiến đất mở rộng 3,97 km đường ngõ xóm và trực tiếp giám sát xây dựng 7 nhà văn hóa thôn. Các hộ làm nghề mộc nhận thức rõ lợi ích hạ tầng giao thông đối với việc kinh doanh nên đã chủ động đối ứng ngày công lao động và vật liệu xây dựng.
Câu hỏi thứ năm: Hạn chế lớn nhất về mức độ tham gia của cộng đồng được luận văn chỉ ra là gì?
Trả lời: Hạn chế lớn nhất là người dân chưa đạt đến nấc thang trao quyền kiểm soát tối cao theo mô hình của Arnstein. Trong khâu quy hoạch sử dụng đất và xây dựng đề án ban đầu, người dân chủ yếu đóng vai trò tham dự, tiếp nhận thông tin thụ động từ Ban Quản lý xã mà chưa có quyền quyết định trực tiếp các hạng mục ưu tiên đầu tư.
Kết luận
- Luận văn khẳng định sự tham gia của cộng đồng là nhân tố quyết định giúp xã Thụy Hương hoàn thành trọn vẹn 19/19 tiêu chí nông thôn mới trong giai đoạn 2009 - 2014.
- Đề tài cung cấp minh chứng thực nghiệm về hiệu quả đầu tư hạ tầng với 5,8 km đường trục xã, 7,3 km kênh mương và trên 4 tỷ đồng nâng cấp lưới điện hạ thế.
- Kết quả nghiên cứu chứng minh mối liên hệ hữu cơ giữa cải thiện hạ tầng và gia tăng thu nhập của 256 hộ dân thôn Tân Mỹ từ 9,1 triệu lên 25 triệu đồng mỗi năm.
- Công trình chỉ rõ sự tham gia của cư dân mới dừng ở mức đóng góp nguồn lực và giám sát (bậc 4-6), chưa đạt đến mức độ tự quản và quyết định quy hoạch tối cao (bậc 8).
- Hệ thống khuyến nghị đưa ra các định hướng then chốt nhằm nâng cao quyền làm chủ thực chất của nông dân trong giai đoạn mở rộng 2016 - 2020.
Đóng góp lớn nhất của luận văn là bổ sung nguồn tư liệu nhân học dân tộc học quý báu về bức tranh nông thôn ven đô Hà Nội trong thời kỳ công nghiệp hóa. Các phát hiện này tạo tiền đề vững chắc cho việc triển khai chính sách nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 trên quy mô toàn quốc. Các nhà nghiên cứu, nhà quản lý và bạn đọc quan tâm có thể khai thác toàn văn công trình để ứng dụng vào công tác hoạch định phát triển cộng đồng bền vững.