Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG ĐƯỜNG GIAO THÔNG NÔNG THÔN 1. Cơ sở lý luận về sự tham gia của người dân trong xây dựng đường giao thông nông thôn 1. Các khái niệm có liên quan 1. Sự tham gia Theo cách hiểu chung thì tham gia là góp phần hoạt động của mình vào một hoạt động, một tổ chức chung nào đó.
Quan điểm của các nhà nghiên cứu phát triển, tham gia (Participation) là một triết lý đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu phát triển cộng đồng. (1989) cho rằng tham gia là một quá trình tạo khả năng nhạy cảm của người dân và làm tăng khả năng tiếp thu và năng lực của người dân nhằm đáp ứng các nhu cầu phát triển cũng như khích lệ các sáng kiến địa phương. Quá trình này hướng tới sự tăng cường năng lực tự kiểm soát các nguồn lực và tổ chức điều hành trong những hoàn cảnh nhất định. Tham gia bao hàm việc ra quyết định, thực hiện, phân chia lợi ích và đánh giá các hoạt động phát triển của người dân ( Tô Duy Hợp, 2003).
Clanrence (1961) giải thích sự tham gia của cộng đồng là “quá trình trong đó các nhóm dân cư của cộng đồng tác động vào quá trình quy hoạch, thực hiện, quản lý sử dựng hoặc duy trì một dịch vụ, trang thiết bị hay phạm vi hoạt động…”. Như vậy: (i) Các hoạt động cá nhân không có tổ chức sẽ không được coi là sự tham gia của cộng đồng. (ii) Sự tham gia của cộng đồng là một quá trình mà Chính phủ và cộng đồng cùng nhận một số trách nhiệm cụ thể và tiến hành các hoạt động để cung cấp các dịch vụ cho tất cả cộng đồng. (iii) Sự tham gia của cộng đồng là đảm bảo cho những người chịu ảnh hưởng của dự án được tham gia vào việc quyết định dự án.
(iv) Sự tham gia của cộng đồng là tìm và huy động các nguồn lực của cộng đồng, qua đó để tăng lợi ích cho cộng đồng dân cư giảm các chi phí, tăng hiệu quả kinh tế, chính trị và xã hội cho đất nước. 5 Sự tham gia của người dân được hiểu là hoạt động của một nhóm, các cá nhân hay tổ chức trong cộng đồng mà các bên liên quan tự nguyện, đồng thuận cùng xây dựng, thực thi các quy tắc, công việc của tổ chức hoạt động có mục đích, mục tiêu chung và cùng nhau xây dựng, phát triển để hướng đến việc hoàn thành mục đích, mục tiêu chung ấy. Nông thôn Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác.
(Vũ Trọng Khải và cs. Nông thôn là vùng khác với đô thị là ở đó có một cộng đồng chủ yếu là nông dân, làm nghề chính là nông nghiệp; có mật độ dân cư thấp hơn, có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có mức độ phúc lợi xã hội thua kém hơn, có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp hơn (Vũ Trọng Khải và cs. Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam có thể hiểu: “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác” (Vũ Trọng Khải và cs.
Giao thông nông thôn Giao thông nông thôn được định nghĩa là sự di chuyển người và hàng hoá ở cấp huyện và cấp xã. Giao thông nông thôn có thể chia thành 3 loại nhỏ như sau: Cơ sở hạ tầng (đường sá, cầu, đường thuỷ và cảng), phương tiện vận chuyển và con người. Theo Quyết định 167 về quản lý mạng lưới đường giao thông nông thôn, hệ thống đường giao thông này được các cán bộ cấp huyện và xã quản lý. Theo đó, hệ thống đường giao thông nông thôn là một hệ thống 6 các con đường bao quanh làng bản, thôn xóm.
Nó bao gồm các tuyến đường từ trung tâm xã, đến các trục đường quốc lộ, trung tâm hành chính huyện, đường liên xã, liên thôn, đường làng ngõ xóm và đường chính ra đồng ruộng xây dựng thành một hệ thống giao thông liên hoàn (Đinh Tuấn Hải, 2013). Đường GTNT là đường thuộc khu vực nông thôn, được định nghĩa là loại đường giá tương đối thấp, lưu lượng xe ít, các đường nhánh, các đường phục vụ chủ yếu cho khu vực nông nghiệp nối với hệ thông đường chính, các trung tâm phát triển chủ yếu hoặc các trung tâm hành chính và nối với các làng mạc, các cụm dân cư dọc tuyến, các chợ, mạng lưới giao thông huyết mạch hoặc các tuyến cao hơn (Đinh Tuấn Hải và Nguyễn Xuân Quyết 2014). Đường giao thông nông thôn bao gồm: Đường huyện, đường xã, đường thôn xóm. Hệ thống đường huyện là các đường nối từ trung tâm hành chính huyện tới trung tâm hành chính của xã hoặc cụm các xã, các huyện lân cận.
Uỷ ban nhân dân cấp huyện quản lý đối với đường trong phạm vi huyện. Hệ thống đường xã là các đường nối trung tâm hành chính xã đến các thôn xóm hoặc các đường nối giữa các xã với nhau. Uỷ ban nhân dân xã quản lý đường trong phạm vi xã. Đường thôn xóm bao gồm các đường trong nội bộ khu dân cư và các đường từ thôn ra đồng ruộng Giao thông nông thôn giúp hộ nông dân, các trang trại đưa nông sản đến bán cho cơ sở chế biến, đến các đô thị, đến các vùng dân cư trong cả nước, đảm bảo và nâng cao chất lượng hàng hoá nông sản, nhất là các nông sản tươi sống phục vụ cho tiêu dùng cũng như cho khu công nghiệp chế biến.
Ngược lại, nó còn giúp cho thị trường nông thôn phát triển, vì nông thôn là thị trường rộng lớn để tiêu thụ các hàng hoá các ngành công nghiệp, sản xuất khác. Đối với vùng núi, vùng sâu, vùng xa giao thông nông thôn còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nếu cơ sở hạ tầng giao thông không tốt sẽ là trở ngại chính đối với sự phát triển khả năng chuyên môn hoá sản xuất tại từng khu vực về cả cây ngắn ngày và cây dài ngày có tiềm năng phát triển nhưng không thể tiêu thụ được sản phẩm hoặc không được cung cấp lương thực một cách ổn định. 7 Như vậy, giao thông nông thôn còn là giải pháp tích cực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn (cả nông nghiệp và phi nông nghiệp) sang sản xuất hàng hoá (Đinh Tuấn Hải và Nguyễn Xuân Quyết 2014).
Sự tham gia của người dân trong xây dựng đường giao thông nông thôn 1. Khái niệm Từ hai khái niệm sự tham gia và nông thôn có thể hiểu về sự tham gia của người dân nông thôn chính là sự tham gia của người dân về cả tinh thần và vật chất vào một lĩnh vực xã hội công ích nào đó diễn ra trong khu vực nông thôn. Cụ thể hơn, sự tham gia của người dân nông thôn có thể bao gồm sự tham gia, phối hợp đóng góp công sức, đất đai, tiền mặt. trực tiếp với các tổ chức Nhà Nước, Doanh nghiệp và Tổ chức Phi chính phủ.
trong tất cả các lĩnh vực vì lợi ích chung của xã hội và lợi ích của người dân sống trong khu vực. Vì vậy, để dễ hiểu và bao quát hơn, theo quan điểm của tác giả, sự tham gia của người dân nông thôn là sự tham gia đóng góp về cả tinh thần, vật chất. của người dân ở khu vực nông thôn vào các hoạt động công ích vì lợi ích chung của xã hội và lợi ích riêng của khu vực nông thôn nơi người dân nơi đó sinh sống (Đinh Tuấn Hải, 2013). Có thể thấy sự tham gia của người dân trong xây dựng đường giao thông nông thôn là rất cần thiết.
Các công trình giao thông này là những công trình giao thông công ích, phục vụ các yêu cầu phát triển của xã hội và lợi ích trực tiếp của người dân tại nơi mình sinh sống. Chính sự tham gia này sẽ giúp cho các công trình giao thông được đảm bảo hơn và phù hợp với yêu cầu sử dụng của người dân tại khu vực thi công. Người dân tại các khu vực nông thôn có thể tham gia vào nhiều khâu từ thiết kế đến nghiệm thu và quản lý. trong tất cả các các công trình giao thông công ích tại nơi mình sinh sống, từ hệ thống đường giao thông liên thôn, xã đến các hệ thống đường giao thông phục vụ cho sản xuất.
8 Do vậy, sự tham gia của người dân trong xây dựng đường giao thông nông thôn có ý nghĩa quan trọng và không thể thiếu. Vì vậy, Sự tham gia của người dân trong xây dựng đường giao thông nông thôn là sự tham gia của người dân trong tất cả các hạng mục công việc của các công trình giao thông công ích ở nông thôn, khu vực mà người dân sinh sống. Sự tham gia này được thể hiện bằng nhiều cách như: Đóng góp ý kiến về thiết kế, giám sát, cùng với chủ đầu tư và nhà thầu lập kế hoạch thi công, nghiệm thu và quản lý. Xây dựng và quản lý đường giao thông nông thôn Là quá trình bỏ vốn cùng các tài nguyên, lao động và vật chất khác để tạo nên tài sản (đường giao thông), bao gồm xây dựng mới, xây dựng lại, mở rộng, khôi phục các công trình đường giao thông thôn/bản nhằm góp phần thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng về đi lại, vận chuyển hàng hóa, máy móc.
để phục vụ đời sống và sản xuất nông nghiệp (Đỗ Hoài Nam và Lê Cao Đoàn, 2001). Quản lý đường giao thông thôn là việc thực thi các chính sách do hội đồng quyết định và phối hợp các hoạt động hàng ngày để đạt được mục đích và mục tiêu của cơ quan hay tổ chức nhằm bảo đảm việc khai thác sử dụng giao thông thôn/bản bảo đảm hiệu quả, đạt được mục đích đề ra. Đối với hệ thống giao thông đường bộ Việt Nam được chia thành các cấp quản lý là cấp Trung ương và cấp địa phương.