mở đầu và cũng là khâu kết thúc cho quá trình sản xuất. Quản lý sử dụng đường GTNT tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông thôn và thúc đẩy CNH-HĐH ở nông thôn một cách nhanh chóng. Hệ thống giao thông tốt nó sẽ thúc đẩy sự lưu chuyển này từ đó thúc đẩy sản xuất của người dân và của nhà máy. Quản lý sử dụng đường GTNT là cơ sở tạo tiền đề cho quá trình phát triển kinh tế và thực hiện nhiệm vụ xã hội.
• Vai trò của quản lý sử dụng đường GTNT đối với phát triển xã hội: Quản lý sử dụng đường GTNT đảm bảo cho các hoạt động đi lại của người dân vùng đó được thuận lợi hơn. Từ đó sẽ thúc đẩy việc giao lưu văn hóa giữa các vùng, các khu vực, giữa thành phố với nông thôn, giữa đồng bằng với miền núi. 7 Quản lý sử dụng đường GTNT còn tạo công ăn việc làm cho người dân nông thôn lúc nông nhàn. Vì các công trình giao thông này được xây dựng ngay tại địa phương và phải cần đến một lượng lao động lớn.
Do đó có thể huy động một số lao động của địa phương, giải quyết thất nghiệp cho người dân dẫn theo. Ngoài ra, giao thông nông thôn phát triển còn để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trên bước đường hội nhập kinh tế trên thế giới và trong khu vực. Nội dung công tác quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn (1) Công tác đầu tư xây dựng hệ thống đường GTNT Trước khi đưa đường GTNT vào vận hành khai thác, Chủ đầu tư có trách nhiệm: Hoàn thành các thủ tục về QL đầu tư xây dựng công trình theo quy định; Lắp đặt đầy đủ biển báo đường bộ, bảng hướng dẫn quản lý, vận hành khai thác các công trình và hệ thống an toàn giao thông; Khi bàn giao đường GTNT, Chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng, tổ chức giám sát thi công xây dựng và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến giai đoạn xây dựng, Chủ quản lý sử dụng đường GTNT tiến hành kiểm tra, rà soát các hạng mục, bộ phận công trình đường. Sau khi nhận bàn giao đường GTNT đưa vào vận hành khai thác, Chủ quản lý sử dụng đường GTNT phải thông báo bằng văn bản về thời gian đưa đường GTNT vào vận hành khai thác, tải trọng khai thác, tốc độ cho phép, khổ giới hạn cho phép tham gia giao thông trên đường GTNT và các nội dung cần thiết khác (Chính phủ, 2013).
Trong thời gian bảo hành theo quy định, Chủ đầu tư và nhà thầu thi công xây dựng chịu trách nhiệm thực hiện sửa chữa các hư hỏng, khiếm khuyết, thay thế bộ phận, hạng mục bị hư hỏng và thực hiện các nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật về xây dựng (Chính phủ, 2013). (2) Công tác sửa chữa, bảo dưỡng, bảo trì hệ thống đường GTNT Bảo dưỡng đường được phân ra nhiều loại theo khối lượng công việc, việc xây dựng kế hoạch bảo dưỡng được thực hiện theo năm, được xác định từ số liệu thống kê khối lượng bảo dưỡng. 8 Thực tế hiện nay nước ta đang áp dụng cơ cấu quản lý theo mô hình sự nghiệp, đây là mô hình quản lý tập trung theo kế hoạch, hoạt động theo hình thức vốn sự nghiệp do Nhà nước quản lý (Bộ Giao thông vận tải, 2013). Vì đường giao thông nông thôn được thiết kế nhằm đảm bảo cho các phương tiện cơ giới loại trung, nhẹ và xe thô sơ qua lại, do đó kết cấu mặt đường được thiết kế không phức tạp, sử dụng vật liệu sẵn có tại địa phương do đó loại đường này dễ bị xuống cấp.
Có nhiều nguyên nhân gây nên tình trạng xuống cấp của các con đường giao thông nông thôn (Bộ Giao thông vận tải, 2013). Nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng và bảo dưỡng các công trình giao thông nông thôn, Nhà nước đã có nhiều dự án thiết thực góp phần nâng cao chất lượng sống cho người dân. (3) Công tác quản lý sử dụng hệ thống đường GTNT Hệ thống tổ chức quản lý và phân cấp quản lý sử dụng GTNT: Theo Luật Giao thông đường bộ được Quốc hội ban hành ngày 13/11/2008 và Nghị định số 11/2010/NĐ-CP ngày 24/2/2010 của Chính phủ Quy định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, việc quản lý sử dụng đường GTNT (gồm đường huyện, đường xã) được xác định do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định; thẩm quyền phân loại và điều chỉnh hệ thống đường GTNT (đường huyện, đường xã) do Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định sau khi được Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh đồng ý; như vậy theo quy định hiện hành, quản lý dử dụng GTNT do UBND tỉnh quản lý. Các cấp tham gia quản lý sử dụng GTNT trên thực tế gồm 4 cấp sau: + Cấp trung ương: Bộ GTVT (Tổng Cục đường bộ Việt Nam, Cục Đường thủy nội địa); + Cấp tỉnh: UBND tỉnh (Sở GTVT); + Cấp huyện: UBND huyện (Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện).
Phòng Kinh tế và Hạ tầng được giao giúp UBND hyện quản lý GTNT trên địa bàn Huyện; + Cấp xã: UBND xã. Nội dung quản lý đường GTNT ở các cấp: - Cấp trung ương: Bộ GTVT (Tổng cục ĐBVN, Cục Đường thủy nội địa) có trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hệ thống đường GTNT bao gồm xây dựng chiến 9 lược, hoạch định chính sách, xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật, các văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn kỹ thuật quản lý, xây dựng và bảo trì hệ thống đường GTNT.1: Hệ thống tổ chức quản lý các cấp về giao thông nông thôn - Các Bộ KHĐT, Tài chính, Xây dựng có trách nhiệm đối với việc lập kế hoạch, xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn quy hoạch xây dựng nông thôn, phân bổ các nguồn vốn cho các địa phương đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn. Cấp tỉnh: Sở GTVT là cơ quan trực tiếp được Uỷ ban nhân dân tỉnh giao quản lý sử dụng GTNT trên địa bàn, xây dựng quy hoạch phát triển GTNT (Chính phủ, 2010). Cấp huyện: UBND Huyện là cơ quan quản lý sử dụng đường huyện, đường xã.
Hiện tại cấp huyện đã tham gia là chủ đầu tư, thực hiện quản lý các dự án đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp đường giao thông nông thôn trên địa bàn theo quy định của luật xây dựng. Cấp xã: UBND xã chịu trách nhiệm quản lý, bảo trì và khai thác hệ thống đường xã. Tổ chức vận động sự đóng góp của người dân tham gia xây dựng, bảo trì đường xã. Quản lý, giám sát, theo dõi khai thác đường: đánh giá đúng tình trạng đường, tổ chức khắc phục hư hỏng, đảm bảo giao thông thông suốt, an toàn.
(4) Kiểm tra, giám sát và đánh giá việc quản lý, sử dụng hệ thống đường GTNT 10 Công tác kiểm tra, theo dõi tình trạng đường GTNT do Chủ quản lý sử dụng đường GTNT chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện thông qua các hình thức sau: - Chủ quản lý sử dụng đường GTNT trực tiếp tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, theo dõi tình trạng đường. - Chủ quản lý sử dụng đường GTNT giao nhiệm vụ, ký hợp đồng để Đơn vị quản lý đường GTNT thực hiện một phần hoặc toàn bộ công tác kiểm tra, theo dõi tình trạng đường; giám sát, kiểm tra Đơn vị quản lý đường GTNT thực hiện kiểm tra, theo dõi tình trạng đường GTNT. Nội dung kiểm tra, theo dõi và xử lý khi kiểm tra tình trạng đường GTNT bao gồm: - Kiểm tra, theo dõi, phát hiện tình trạng bất thường, sự cố công trình đường bộ, các công trình khác ảnh hưởng đến an toàn giao thông, tai nạn, ùn tắc giao thông (nếu có); - Thống kê số lượng, vị trí, tình trạng kỹ thuật của các hạng mục công trình đường bộ, hệ thống cọc mốc giải phóng mặt bằng, cọc mốc lộ giới, hiện trạng phạm vi hành lang an toàn đường bộ; kiểm tra thường xuyên để phát hiện hư hỏng, sự xâm hại công trình. - Phát hiện các hành vi vi phạm, báo cáo Đơn vị quản lý đường GTNT và Chủ quản lý sử dụng đường GTNT để xử lý theo quy định.
Yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý đường giao thông nông thôn 1. Cơ chế, chính sách trong quản lý Cơ chế đầu tư là một khái niệm thể hiện sự kết hợp giữa bộ máy và nội dung hoạt động quản lý. Hai yếu tố này có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, qui định lẫn nhau. Nội dung quản lý càng rộng lớn, phức tạp thì bộ máy quản lý càng phong phú.
Bộ máy quản lý càng đa dạng, năng động thì các yếu tố tạo nên bộ máy (các cơ quan nhà nước, cán bộ quản lý) càng phải được tổ chức tinh vi, khoa học, cán bộ quản lý càng phải có trình độ cao. Các yếu tố thể chế, luật pháp có tầm ảnh hưởng tới tất cả các ngành, các lĩnh vực trên một lãnh thổ, các yếu này có thể ảnh hưởng đến bất cứ ngành, hoặc lĩnh nào. Khi thực hiện quản lý trên một đơn vị hành chính, hệ thống quản lý sẽ phải bắt buộc tuân theo các yếu tố thể chế, luật pháp tại khu vực đó. 11 Có nhiều thể chế như: thể chế chính trị, thể chế kinh tế, thể chế hành chính nhà nước, thể chế xã hội., chẳng hạn thể chế chính trị ở nhà nước xã hội chủ nghĩa dựa trên nền tảng pháp chế xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ, tăng cường vai trò của các tổ chức xã hội và sự tham gia tích cực của công dân vào các công việc của nhà nước và xã hội; còn thể chế hành chính nhà nước được hiểu là bao gồm toàn bộ các cơ quan hành chính nhà nước và toàn bộ hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật tạo khuôn khổ pháp lý cho các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện chức năng quản lý, điều hành mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời quy định các mối quan hệ giữa các cơ quan và nội bộ bên trong của các cơ quan hành chính nhà nước; còn thể chế kinh tế bao gồm các yếu tố chủ yếu: các đạo luật, luật lệ, quy định, quy tắc, các quy chuẩn, tiêu chuẩn,.
về kinh tế gắn với các chế tài xử lý; các tổ chức kinh tế; cơ chế vận hành nền kinh tế. Như vậy, cũng như các vấn đề khác trong xã hội, công tác quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn chịu sự tác động, ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố thể chế và pháp luật, nó đòi hỏi công tác quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn phải được thực hiện theo hành lang pháp luật quy định.