phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu bao gồm 2 chương, 4 tiết. 16 Chƣơng 1 TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TUYÊN TRUYỀN, VẬN ĐỘNG NHÂN DÂN 1. Một số khái niệm liên quan 1. Nhân dân, tuyên truyền, vận động * Nhân dân: Nhân dân trong lĩnh vực chính trị pháp lý, nhân dân được hiểu là những con người mang quốc tịch của đất nước và được sự bảo hộ của một nhà nước nơi họ đang sinh sống và làm việc, không bao gồm những người trong bộ máy cai trị.
Theo Từ điển Tiếng Việt, nhân dân nghĩa thông thường, là toàn thể cư dân của một nước. Nhân dân luôn có tính lịch sử cụ thể. Trong cộng đồng nguyên thuỷ, nhân dân đồng nghĩa với cư dân. Trong xã hội có giai cấp nhân dân còn được hiểu theo nghĩa là không phải tầng lớp giai cấp thống trị thi hành chính sách chống nhân dân.
Nhân dân có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với đảng cộng sản trong việc xác định chủ trương, chính sách, đường lối nhằm động viên tất cả mọi lực lượng có thể tập hợp được đoàn kết lại trong cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội và nhân dân đóng vai trò chủ thể. Nhân dân còn có vai trò quan trọng trong lịch sử loài người, là những người làm ra lịch sử và là những người sản xuất ra của cải vật chất chính cho xã hội, trong thời kỳ phong kiến tư tưởng lấy dân làm gốc, dĩ dân vi bản đã đề cao vai trò của nhân dân trong lao động sản xuất, nguồn lao động chính của xã hội. Thời kỳ sau này vai trò của nhân dân được đề cao, tự do, dân chủ, nhân quyền. Hồ Chí Minh nêu ra quan niệm về nhân dân, Người nói rằng: nhân dân ta gồm già trẻ gái trai, các tầng lớp xã hội như công nhân, nông dân, tiểu tư sản trí thức, tư sản dân tộc, binh sĩ.
hễ là người Việt Nam đều được gọi là nhân dân. Như vậy, theo quan niệm của Hồ Chí Minh, nhân dân ta là 17 đại bộ phận bao gồm đông đảo những người thuộc nhiều giai cấp, tầng lớp khác nhau và chủ thể là những người lao động trong xã hội. Tất cả các tầng lớp, giai cấp nhân dân này đoàn kết lại để đem lại độc lập dân tộc, tự do cho đất nước, cho nhân dân. Ngoài các tầng lớp, giai cấp lao động trên, dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn có “những người khác yêu nước”., cụ thể những nhân sỹ yêu nước (là người trí thức có danh vọng) và những thân sỹ yêu nước (là người có học thức, thuộc tầng lớp trên của xã hội cũ) cũng trong địa vị nhân dân.
Người dân Việt Nam nào cũng đều được hưởng đầy đủ mọi quyền và lợi ích của một công dân Việt Nam do luật pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà quy định. Ngoài ra khái niệm nhân dân cũng được Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ khi xác định lực lượng cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta: “đó là công nhân, nông dân tiểu tư sản thành thị, tiểu tư sản trí thức, thứ đến tư sản dân tộc; ngoài ra là những thân sĩ yêu nước và tiến bộ. Những tầng lớp giai cấp và phần tử đó hợp thành nhân dân mà công nông là nền tảng”[17, tr. Đảng nêu rõ lực lượng nhân dân là lực lượng đông đảo, nếu có thể đoàn kết tập hợp lại thì nhất định thắng lợi.
Tất cả các giai tầng đều có nghĩa vụ và trách nhiệm làm nên thắng lợi của dân tộc, mang lại quyền độc lập tự do cho đất nước, cho nhân dân và dân là gốc. Tóm lại, theo tác giả, nhân dân là cộng đồng người được sinh ra và sinh sống trên lãnh thổ của Việt Nam, có quốc tịch Việt Nam và có đầy đủ tư cách, quyền lợi của công dân Việt Nam. * Tuyên truyền: Theo Từ điển Tiếng Việt, tuyên truyền là hoạt động phổ biến, giải thích rộng rãi nhằm mục đích thuyết phục mọi người tán thành, ủng hộ và làm theo. Tuyên truyền hiện đại không dừng lại ở việc thay đổi suy nghĩ hay thái độ của quần chúng, mà cần phải tạo ra hành động cụ thể, thiết thực trong quần chúng, làm cho quần chúng tin tưởng và làm theo.
Tuyên truyền không chỉ mang cá 18 nhân ra khỏi sự tin tưởng cũ, rời xa cái cũ, mà cần phải làm cá nhân đó tin vào suy nghĩ mới và đưa đến hành động, thuyết phục tạo sự tin tưởng cao. Tuyên truyền trong tiếng Latinh là truyền bá, truyền đạt một quan điểm nào đó trong xã hội. Trong tác phẩm “Người tuyên truyền và cách tuyên truyền”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng tuyên truyền là công cuộc truyền tải lại những công việc quan trọng tới người dân, nội dung phải nói cho dân dễ hiểu, ngắn gọn cho dân dễ nhớ, tạo được sự tin tưởng để dân theo, dân làm. Trong Đại bách khoa toàn thư Liên Xô, của nhà xuất bản “Bách khoa toàn thư Xô viết”, thuật ngữ tuyên truyền có hai nghĩa: Nghĩa rộng, tuyên truyền là sự truyền bá những quan điểm, tư tưởng về chính trị, khoa học, triết học, nghệ thuật.
nhằm mục đích đưa những quan điểm, tư tưởng ấy trở thành ý thức xã hội và hành động cụ thể của quần chúng trong xã hội. Nghĩa hẹp, tuyên truyền là truyền bá những quan điểm, lý luận nhằm mục đích xây dựng cho quần chúng nhân dân một thế giới quan phương pháp luận nhất định trong xã hội phù hợp với lợi ích của chủ thể tuyên truyền và là động lực thúc đẩy những hoạt động thực tế phù hợp với thế giới quan ấy. Tuyên truyền là một khoa học, tuyên truyền có nhiều kiểu loại tùy theo cách phân chia, có thể phân theo tính chất hệ tư tưởng, nội dung; phân theo phạm vi tác động đến đối tượng; phân theo phương thức tác động. Ngoài ra, còn có thể phân tuyên truyền thành tuyên truyền đối nội và tuyên truyền đối ngoại.
Theo giáo trình Nguyên lý Công tác tư tưởng do tác giả Lương Khắc Hiếu (Chủ biên) định nghĩa: “Công tác tuyên truyền là một hình thái, một bộ phận cấu thành của công tác tư tưởng nhằm truyền bá hệ tư tưởng và đường lối chiến lược, sách lược trong quần chúng, xây dựng cho quần chúng thế giới quan phù hợp với lợi ích của chủ thể hệ tư tưởng, hình thành và cũng có niềm tin, tập hợp và cổ vũ quân chúng hành động theo thế giới quan và niềm tin đó”[49, tr. Trong công tác tư tưởng của Đảng và nhà nước ta, tuyên truyền là hoạt động nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí 19 Minh, quan điểm đường lối của Đảng, chính sách,pháp luật của nhà nước và những tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại… làm cho chúng trở thành nhân tố chi phối , thống trị trong đời sống tinh thần của xã hội; động viên, cổ vũ tính tích cực, tự giác, sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Như vậy, tuyên truyền là một hoạt động nhằm truyền bá, giải thích của chủ thể tới đối tượng tuyên truyền về một tư tưởng, một học thuyết hay một vấn đề nào đó trong xã hội mà vấn đề đó có đầy đủ quyền và lợi ích dân tộc và lợi ích cho nhân dân. Tuyên truyền cũng là một hoạt động nhằm đạt tới mục đích là làm thay đổi, nâng cao nhận thức của đối tượng, hình thành một kiểu ý thức xã hội có tập thể, xây dựng nên thế giới quan nhất định, hình thành tính tích cực xã hội ở đối tượng cho phù hợp với lợi ích của chủ thể tuyên truyền.
* Vận động: Vận động là một phạm trù của triết học Mác-Lênin dùng để chỉ về một phương thức tồn tại của vật chất, và có tính liên tục, cũng là sự thay đổi của tất cả mọi sự vật hiện tượng, mọi quá trình diễn ra trong không gian có sự thay đổi theo thời gian, vũ trụ từ đơn giản đến phức tạp. Và theo quan điểm của triết học Mác – Lênin, vận động là sự thay đổi vị trí trong không gian theo nghĩa chung nhất, là mọi sự biến đổi của sự vật hiện tượng. Thông qua vận động, vật chất mới được biểu hiện và bộc lộ bản chất của mình. Vận động theo một khái niệm của triết học là bao gồm mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, chúng có sự thay đổi về vị trí, có tác động qua lại giữa các khách thể vật chất.
Vận động trong tiếng Việt được coi là một từ đa nghĩa, theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên và từ điển Tiếng Việt Phổ thông đề cập đến vận động theo nhiều nghĩa: Một là, vận động theo nghĩa hiện tượng vật thể là không ngừng thay đổi vị trí trong quan hệ với những vật thể khác, chúng có thể đổi vị trí cho nhau. Hai là, từ khái quát vận động được 20 dùng để chỉ hình thức tồn tại của vật chất trong không gian, thời gian, đồng thời chuyển động cơ học là dạng vận động đơn giản nhất của vật chất. Ba là, hiện tượng thay đổi tư thế hay vị trí của thân thể hoặc bộ phận thân thể. Bốn là, di chuyển, thay đổi vị trí.
Năm là, vận động, động viên làm cho người khác tự nguyện làm theo việc gì, thường là theo một phong trào nào đó[44, tr. Như vậy, vận động được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, dưới góc độ nghiên cứu của đối tượng này vận động được hiểu: Vận động là sử dụng những phương pháp, hình thức, phương tiện công tác tư tưởng để tác động mạnh mẽ vào nhận thức, tình cảm của đối tượng, qua đó cổ vũ, lôi cuốn họ hành động. Vận động cũng là hình thức tổ chức, triển khai công tác tuyên truyền để các đối tượng chấp nhận thực hiện làm theo định hướng, mục tiêu đã định dưới sự dẫn dắt, lãnh đạo của cán bộ tuyên truyền. Như vậy, vận động còn là hoạt động công việc mang tính thuyết phục, tạo sự tin tưởng cao, thúc đẩy người dân thực hiện theo các nội dung được tuyên truyền, giúp cho người dân hiểu rõ nội dung, mục đích, ý nghĩa của công việc cần làm và thực hiện theo các công việc đó.
Một hoặc tổ chức nhỏ làm theo sẽ vận động được thêm những người khác cùng làm trên tinh thần xây dựng tập thể, đoàn kết.