Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2005 - 2010, tỉnh Phú Thọ ghi nhận tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) bình quân đạt 10,6%/năm, gấp 2,2 lần so với giai đoạn 2001 - 2005. Tuy nhiên, GDP bình quân đầu người năm 2010 của tỉnh chỉ đạt 11,8 triệu đồng/năm, tương đương khoảng 51,75% mức bình quân chung của cả nước (22,8 triệu đồng/năm). Thực trạng này phản ánh một thách thức cốt lõi: làm thế nào để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng vẫn đảm bảo thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết mâu thuẫn biện chứng giữa gia tăng quy mô của cải vật chất và phân phối công bằng xã hội tại một tỉnh trung du miền núi còn nhiều khó khăn. Mục tiêu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa các vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội dưới góc độ triết học Mác - Lênin; phân tích, đánh giá thực trạng kết hợp hai yếu tố này trên địa bàn tỉnh Phú Thọ qua các thời kỳ; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian địa lý tỉnh Phú Thọ với diện tích tự nhiên 3.528,4 km2, bao gồm 13 đơn vị hành chính cấp huyện và 274 xã, phường, thị trấn (trong đó có 214 xã miền núi, 7 xã vùng cao và 50 xã đặc biệt khó khăn), trong khung thời gian từ năm 1975 đến năm 2012. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học giúp địa phương định hình chính sách điều tiết thu nhập, khai thác hiệu quả 81,2 nghìn ha đất chưa sử dụng và giải quyết an sinh xã hội cho hơn 14,11% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng thế giới quan. Trọng tâm là quan điểm của C. Mác trong tác phẩm "Phê phán cương lĩnh Gôta" về các giai đoạn phát triển của xã hội tương lai và nguyên tắc phân phối theo lao động, cùng luận điểm của Ph. Ăngghen trong tác phẩm "Về vấn đề nhà ở" khẳng định công lý và công bằng luôn là sự phản ánh của những quan hệ kinh tế hiện tồn. Đồng thời, nghiên cứu kế thừa quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam từ Đại hội VI (năm 1986) đến Đại hội X (năm 2006) về việc gắn kết tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển.

Bên cạnh đó, đề tài đối chiếu với các mô hình kinh tế tiêu biểu trên thế giới: mô hình kinh tế thị trường tự do mới (gắn với giả thuyết đường cong Kuznets năm 1955 và thực tiễn nước Mỹ khi hệ số Gini tăng từ 0,390 năm 1988 lên 0,456 năm 1994, thu nhập của 5% nhóm giàu nhất chiếm 24,5% GDP năm 1997 trong khi 5% nhóm nghèo nhất chỉ chiếm 4,3%) và mô hình nhà nước phúc lợi Bắc Âu (Thụy Điển với mức chi tiêu an sinh xã hội chiếm tới 60% GDP).

Các khái niệm chính được làm rõ gồm:

  • Tăng trưởng kinh tế: Sự gia tăng về lượng và quy mô sản lượng của cải vật chất (GDP, GNP) trong một thời kỳ nhất định.
  • Phát triển kinh tế: Quá trình biến đổi toàn diện về chất của nền kinh tế, bao gồm tăng trưởng gắn với tiến bộ cơ cấu kinh tế - xã hội.
  • Công bằng xã hội: Sự tương ứng hợp lý giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa quyền lợi và nghĩa vụ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
  • Cơ hội xã hội: Môi trường và điều kiện thuận lợi để mỗi cá nhân phát huy năng lực và tiếp cận các nguồn lực phát triển.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp chính thống từ các Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân tỉnh và Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ giai đoạn 1976 - 2012.

Cỡ mẫu khảo sát bao quát toàn diện 100% các đơn vị hành chính của tỉnh gồm 1 thành phố (Việt Trì), 1 thị xã (Phú Thọ) và 11 huyện, với tổng số 274 xã, phường, thị trấn. Phương pháp chọn mẫu chỉ tiêu toàn phần được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho cả 3 tiểu vùng địa hình: vùng núi cao phía Tây và phía Nam, vùng đồi gò trung du, và dải đồng bằng ven các lưu vực sông Hồng, sông Lô, sông Đà.

Phương pháp phân tích chủ đạo bao gồm phương pháp lịch sử kết hợp logic để tái hiện quá trình chuyển biến nhận thức từ thời kỳ bao cấp (1976 - 1985) sang thời kỳ đổi mới (1986 đến nay); phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh đối chiếu số liệu định lượng. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này là nhằm bảo đảm tính khách quan, vạch rõ bản chất vận động nội tại của các mâu thuẫn xã hội và làm sáng tỏ tính đặc thù của địa phương trung du miền núi trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nền kinh tế Phú Thọ đạt tốc độ tăng trưởng vượt bậc nhưng quy mô nền kinh tế vẫn còn nhỏ. Giai đoạn 2005 - 2010, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 10,6%/năm; giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng tăng 12,3%/năm; dịch vụ tăng 12,6%/năm; nông - lâm nghiệp tăng 5,0%/năm; kim ngạch xuất khẩu đạt 295 triệu USD (tăng 2,34 lần); vốn đầu tư huy động toàn xã hội đạt 29,9 nghìn tỷ đồng, tăng 21,4%/năm.

Thứ hai, sự phân hóa giàu nghèo và khoảng cách thụ hưởng xã hội có xu hướng nới rộng giữa các tiểu vùng. Mặc dù kinh tế tăng trưởng khá, GDP bình quân đầu người năm 2010 mới đạt 11,8 triệu đồng/năm, cách biệt lớn so với mức 22,8 triệu đồng/năm của bình quân cả nước. Dân số sinh sống ở khu vực nông thôn và vùng núi chiếm khoảng 85%, trong đó người Mường chiếm 13,62%, người Dao chiếm 0,92%. Mức sống tại các trung tâm công nghiệp như thành phố Việt Trì, huyện Lâm Thao cao hơn nhiều lần so với 50 xã đặc biệt khó khăn thuộc các huyện miền núi Tân Sơn, Yên Lập, Thanh Sơn.

Thứ ba, hiệu quả khai thác tài nguyên và chuyển dịch cơ cấu sản xuất còn thấp. Toàn tỉnh có 134.888 ha đất lâm nghiệp có rừng (chiếm 38%) và 95.987 ha đất nông nghiệp (chiếm 27%), song địa phương mới khai thác được khoảng 54,8% tiềm năng đất nông - lâm nghiệp; đất chưa sử dụng còn tới 81,2 nghìn ha (trong đó đồi núi chiếm 57,86 nghìn ha). Trữ lượng khoáng sản giá trị cao như cao lanh còn 24,7 triệu tấn chưa khai thác trên tổng số 30 triệu tấn, fenspat còn 3,9 triệu tấn trên tổng số 5 triệu tấn, chưa tạo thành các chuỗi giá trị công nghiệp chế biến sâu để tái đầu tư cho phúc lợi xã hội.

Thứ tư, tàn dư của nhận thức cũ về công bằng xã hội vẫn còn tồn tại. Tư tưởng cào bằng, bình quân chủ nghĩa và tâm lý ỷ lại vào trợ cấp nhà nước vẫn chi phối nếp nghĩ của một bộ phận người dân nông thôn, làm suy giảm động lực cống hiến và cạnh tranh lành mạnh.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của tình trạng trên bắt nguồn từ điểm xuất phát kinh tế thấp, cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ và đặc thù địa hình bị chia cắt phức tạp, thường xuyên đối mặt với thiên tai, lũ quét. Thêm vào đó, Phú Thọ là tỉnh chịu hậu quả nặng nề sau chiến tranh với số lượng lớn gia đình liệt sĩ, thương binh, người có công và nạn nhân chất độc da cam, tạo áp lực rất lớn lên hệ thống an sinh xã hội trong khi ngân sách địa phương còn hạn hẹp.

So sánh với các bài học kinh nghiệm quốc tế, Phú Thọ không thể áp dụng mô hình tăng trưởng bằng mọi giá của phương Tây vì sẽ dẫn đến bất ổn xã hội, cũng không thể duy trì bao cấp tràn lan kiểu Thụy Điển do tiềm lực kinh tế chưa cho phép. Hướng đi đúng đắn là phát triển kinh tế thị trường nhiều thành phần, thừa nhận sự phân hóa giàu nghèo hợp pháp dựa trên năng lực và mức độ đóng góp, đồng thời nhà nước giữ vai trò kiến tạo cơ hội thông qua giáo dục và y tế.

Để phản ánh trực quan các phát hiện này, dữ liệu nghiên cứu có thể được thể hiện qua biểu đồ cột kép so sánh tốc độ tăng trưởng GDP và GDP bình quân đầu người giữa Phú Thọ với toàn quốc qua hai mốc 2005 và 2010. Đồng thời, một bảng thống kê phân bổ tỷ lệ hộ nghèo và mức độ tiếp cận dịch vụ y tế, nước sạch trên 13 huyện thị sẽ minh họa rõ nét mức độ chênh lệch phát triển giữa các tiểu vùng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn gắn với khai thác hiệu quả tài nguyên đất đai. Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần tập trung chỉ đạo đưa hệ số sử dụng đất từ mức 2,2 lần hiện nay lên 2,5 lần vào năm 2020; quy hoạch phủ xanh 57,86 nghìn ha đất trống đồi núi trọc bằng các loại cây công nghiệp và cây lâm nghiệp bản địa có giá trị kinh tế cao, gắn chế biến với xuất khẩu nhằm tạo việc làm ổn định cho khoảng 20.000 - 25.000 lao động nông thôn mỗi năm.

Thứ hai, đổi mới chính sách phân phối thu nhập và nâng cao chất lượng mạng lưới an sinh xã hội. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Bảo hiểm Xã hội tỉnh đẩy mạnh thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và mức độ đóng góp vốn; phấn đấu nâng tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân đạt trên 85% dân số vào năm 2020; ưu tiên bố trí nguồn vốn tín dụng chính sách xóa đói giảm nghèo cho 50 xã đặc biệt khó khăn và vùng đồng bào dân tộc Mường, Dao.

Thứ ba, mở rộng cơ hội xã hội thông qua phát triển giáo dục - đào tạo và chăm sóc sức khỏe ban đầu. Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì thực hiện chương trình kiên cố hóa trường lớp học tại 214 xã miền núi trong giai đoạn 2015 - 2020; nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề từ mức dưới 40% lên 55 - 60% vào năm 2020, tạo điều kiện bình đẳng cho con em nông dân tiếp cận thị trường lao động tại các khu công nghiệp Việt Trì, Thụy Vân, Bãi Bằng.

Thứ tư, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, hoàn thiện thể chế và đẩy mạnh công tác tư tưởng. Tỉnh ủy và Hội đồng nhân dân tỉnh cần tăng cường giám sát việc thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong khai thác 24,7 triệu tấn cao lanh và 3,9 triệu tấn fenspat; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và các hành vi làm giàu bất chính; đẩy mạnh tuyên truyền xóa bỏ tâm lý bình quân cào bằng, khơi dậy khát vọng làm giàu hợp pháp trong toàn thể nhân dân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cán bộ lãnh đạo và chuyên viên hoạch định chính sách cấp tỉnh, huyện: Cung cấp bức tranh toàn cảnh về tương quan giữa phát triển kinh tế và phân hóa giàu nghèo, phục vụ trực tiếp cho công tác xây dựng báo cáo chính trị, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm của các địa phương vùng trung du Bắc Bộ.

Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên ngành Triết học, Kinh tế chính trị: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị, khung phân tích lý luận sắc bén về nguyên tắc phân phối, chủ nghĩa bình quân và phương pháp giải quyết mâu thuẫn xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Nhóm cán bộ làm công tác lao động, an sinh xã hội và dân tộc: Tham khảo các mô hình thực tiễn, số liệu đánh giá về tình trạng phân tầng xã hội, khoảng cách thụ hưởng dịch vụ công tại các xã đặc biệt khó khăn để xây dựng các chương trình mục tiêu giảm nghèo bền vững.

Nhóm doanh nghiệp, nhà đầu tư tại địa bàn tỉnh Phú Thọ: Giúp nhận diện tiềm năng đất đai, nguồn nhân lực địa phương và định hướng phát triển bền vững của tỉnh, từ đó xây dựng chiến lược kinh doanh hài hòa với trách nhiệm xã hội và tạo việc làm cho cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

Tăng trưởng kinh tế có nhất thiết phải hy sinh công bằng xã hội không? Không. Luận văn chứng minh tăng trưởng kinh tế tạo tiền đề vật chất để thực hiện chính sách xã hội, còn công bằng xã hội là động lực kích thích người lao động nâng cao năng suất. Tăng trưởng và công bằng là hai mặt thống nhất của quá trình phát triển bền vững.

Tại sao thời kỳ trước đổi mới 1976 - 1985 công bằng xã hội lại biến thành chủ nghĩa bình quân cào bằng? Do cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp duy trì chế độ phân phối hiện vật và cào bằng thu nhập, coi mọi sự chênh lệch là bất công. Hệ quả là triệt tiêu động lực lao động sáng tạo và dẫn tới tình trạng bình quân trong nghèo khó.

Chỉ số nào phản ánh rõ nét sự chênh lệch kinh tế tại Phú Thọ giai đoạn nghiên cứu? GDP bình quân đầu người năm 2010 của tỉnh đạt 11,8 triệu đồng/năm, chỉ bằng 51,75% so với mức 22,8 triệu đồng/năm của cả nước. Bên cạnh đó, tỉnh có 50 xã đặc biệt khó khăn với tỷ lệ nghèo cao tập trung ở vùng sâu, vùng xa.

Cơ hội xã hội có vai trò như thế nào trong việc thực hiện công bằng xã hội? Cơ hội xã hội, đặc biệt là quyền tiếp cận bình đẳng về giáo dục và y tế, giúp người lao động nâng cao năng lực thể chất và trí tuệ. Đây là gốc rễ giúp người nghèo vươn lên tham gia vào quá trình phân phối thu nhập theo lao động một cách công bằng.

Phú Thọ cần làm gì để khai thác tốt tiềm năng đất đai phục vụ an sinh xã hội? Tỉnh cần đưa hệ số sử dụng đất từ 2,2 lần lên 2,5 lần, đưa 81,2 nghìn ha đất chưa sử dụng vào trồng rừng nguyên liệu và cây công nghiệp, gắn vùng nguyên liệu với các cơ sở chế biến công nghiệp để nâng cao giá trị gia tăng và thu nhập cho người dân.

Kết luận

  • Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là mối quan hệ biện chứng thống nhất; tăng trưởng tạo điều kiện vật chất, còn công bằng tạo động lực tinh thần cho phát triển.
  • Phú Thọ đạt tốc độ tăng trưởng GDP 10,6%/năm giai đoạn 2005 - 2010 nhưng thu nhập bình quân đầu người mới đạt 11,8 triệu đồng/năm, đòi hỏi phải giải quyết cấp bách bài toán phân hóa giàu nghèo.
  • Chấm dứt triệt để tư tưởng bình quân cào bằng, thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và đóng góp vốn, đồng thời bảo đảm an sinh xã hội cho đối tượng yếu thế.
  • Khai thác chiều sâu tiềm năng 134.888 ha đất lâm nghiệp và khoáng sản, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho 214 xã miền núi nhằm kiến tạo cơ hội phát triển đồng đều.
  • Hệ thống giải pháp của luận văn là tài liệu tham khảo khoa học quan trọng cho giai đoạn 2015 - 2020, kêu gọi các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.