Tổng quan nghiên cứu
Du lịch Lâm Đồng với trung tâm là thành phố Đà Lạt ghi nhận bước tăng trưởng vượt bậc trong giai đoạn 2009 - 2013 khi lượng khách du lịch tăng mạnh từ 2,5 triệu lượt lên 4,5 triệu lượt (tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 11%/năm), doanh thu xã hội từ du lịch tăng từ 3.400 tỷ đồng lên 7.500 tỷ đồng. Tính đến năm 2013, toàn tỉnh đã phát triển được 812 cơ sở lưu trú với 12.500 phòng và thu hút hơn 9.000 lao động trực tiếp trong ngành. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của thị trường dịch vụ đang tạo ra sức ép lớn lên chất lượng nguồn nhân lực, trong đó đội ngũ giảng viên, giáo viên dạy nghề đóng vai trò quyết định đến chất lượng đào tạo đầu ra cho toàn ngành.
Vấn đề nghiên cứu cốt lõi của đề tài là sự mất cân đối giữa nhu cầu nhân lực du lịch chất lượng cao và năng lực thực tế của đội ngũ làm công tác đào tạo tại 6 cơ sở giáo dục nghề nghiệp và đại học trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Mục tiêu của luận văn nhằm đánh giá toàn diện thực trạng số lượng, cơ cấu và chất lượng của 85 cán bộ quản lý cùng giáo viên, giảng viên du lịch giai đoạn 2009 - 2013, từ đó xác định các rào cản và đề xuất hệ thống giải pháp phát triển đội ngũ này đến năm 2020.
Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng, trực tiếp góp phần thực hiện Quyết định số 916/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng về quy hoạch phát triển nhân lực giai đoạn đến năm 2020. Công trình lấp đầy khoảng trống nghiên cứu học thuật về lực lượng đào tạo du lịch tại địa phương, tạo đòn bẩy nâng cao chất lượng đào tạo cung ứng hơn 500 cử nhân và 1.500 lao động trung - sơ cấp mỗi năm cho tỉnh Lâm Đồng và khu vực Tây Nguyên.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn tiếp cận vấn đề dựa trên lý thuyết phát triển nguồn nhân lực của Leonard Nadler (1980) với mô hình 3 trụ cột liên hoàn: giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, sử dụng nguồn nhân lực (tuyển dụng, bố trí, đánh giá, đề bạt) và tạo môi trường thuận lợi (môi trường làm việc, khung pháp lý, chính sách đãi ngộ). Đồng thời, đề tài vận dụng mô hình hệ thống về quy trình đào tạo của Goldstein (1993) gồm 5 giai đoạn: đánh giá nhu cầu đào tạo (phân tích tổ chức, công việc, cá nhân), xác định mục tiêu, lựa chọn phương pháp, tiến hành đào tạo và đo lường so sánh kết quả theo các tiêu chuẩn định trước.
Hệ thống khái niệm nghiên cứu tập trung vào 4 nội dung then chốt: nguồn nhân lực du lịch, đào tạo nghề du lịch, Tiêu chuẩn Kỹ năng nghề Du lịch Việt Nam (VTOS với 13 bộ tiêu chuẩn nghề) và chuẩn chức danh nhà giáo theo quy định tại Điều 70 Luật Giáo dục 2005 cùng Điều 58 Luật Dạy nghề 2006. Khung phân tích đánh giá chất lượng người dạy toàn diện dựa trên 3 tiêu chí: phẩm chất chính trị đạo đức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực sư phạm thực hành nghề.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng, báo cáo ngành du lịch của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, số liệu thống kê nhân sự của Phòng Tổ chức - Cán bộ tại 6 cơ sở đào tạo và nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập qua khảo sát thực địa từ năm 2009 đến tháng 12 năm 2013.
Về quy mô và kỹ thuật chọn mẫu, đề tài thực hiện phương pháp chọn mẫu toàn thể đích danh (khảo sát toàn bộ tổng thể) với 85 cán bộ quản lý (28 người) và giáo viên, giảng viên cơ hữu (57 người) trực tiếp tham gia công tác giảng dạy du lịch tại toàn bộ 6 trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh.
Lý do lựa chọn phương pháp chọn mẫu toàn thể và phân tích thống kê mô tả là vì quy mô đội ngũ giảng viên du lịch trên địa bàn tỉnh tương đối tập trung (85 người); việc khảo sát toàn bộ giúp phản ánh chính xác 100% thực trạng mà không gặp sai số chọn mẫu. Dữ liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ %) kết hợp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu cán bộ quản lý để phân tích sâu sắc các yếu tố tác động.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, số lượng giảng viên tăng trưởng nhưng vẫn thiếu hụt so với nhu cầu đào tạo. Từ năm 2009 đến năm 2013, tổng số giảng viên du lịch tại 6 trường tăng 32,56% (từ 43 lên 57 người), trong đó Đại học Đà Lạt tăng 57,14% (từ 7 lên 11 người), Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Lâm Đồng tăng 50% (từ 6 lên 9 người). Tuy nhiên, có tới 59,46% ý kiến khảo sát đánh giá số lượng giáo viên hiện nay là thiếu, 21,62% cho rằng vừa đủ và 18,92% nhận định vừa thừa vừa thiếu cục bộ theo từng bộ môn.
Thứ hai, cơ cấu đội ngũ bộc lộ sự bất cập lớn về giới tính, độ tuổi và thâm niên. Giảng viên nữ chiếm tỷ lệ áp đảo 71,93% (41 người), trong khi nam giới chỉ chiếm 28,07% (16 người). Về độ tuổi, lực lượng trẻ dưới 40 tuổi chiếm tới 85,96% (trong đó nhóm dưới 30 tuổi chiếm 40,35% và nhóm 30-40 tuổi chiếm 45,61%). Về thâm niên giảng dạy, có tới 61,40% giảng viên có tuổi nghề dưới 5 năm, 29,82% có thâm niên từ 5-10 năm và chỉ 8,77% có thâm niên trên 10 năm.
Thứ ba, phẩm chất đạo đức chính trị vững vàng nhưng năng lực thực hành nghề và ngoại ngữ còn hạn chế. Khảo sát ghi nhận 56,76% giảng viên đạt mức phẩm chất tốt, 29,73% mức khá và 13,51% mức trung bình, không có trường hợp vi phạm đạo đức nhà giáo. Dù 100% giảng viên đạt chuẩn học vị cử nhân trở lên, số lượng người có chứng chỉ kỹ năng nghề thực tế đạt chuẩn VTOS hoặc đủ năng lực giảng dạy bằng tiếng Anh vẫn chiếm tỷ trọng thấp.
Thảo luận kết quả
Sự thiếu hụt và mất cân đối cơ cấu giảng viên bắt nguồn từ tốc độ phát triển du lịch của tỉnh Lâm Đồng khi địa phương thu hút 230 dự án đầu tư du lịch với tổng vốn đăng ký 70.586 tỷ đồng trong giai đoạn 2009 - 2013. Nhu cầu mở rộng lớp học buộc các trường phải tuyển dụng ồ ạt cử nhân trẻ mới tốt nghiệp, dẫn đến tỷ lệ 61,40% giảng viên có tuổi nghề dưới 5 năm. Cơ cấu nữ giới chiếm 71,93% cũng tạo ra những rào cản nhất định khi tham gia các khóa đào tạo nâng cao trình độ dài hạn hoặc thực tế nghề nghiệp lưu động.
Dữ liệu nghiên cứu được lượng hóa rõ nét khi trình bày qua các bảng biểu chuyên sâu: Bảng thống kê đối chiếu số lượng giảng viên 2009 - 2013 thể hiện quy mô tăng trưởng từng trường; Biểu đồ cột phân tầng thể hiện tương quan giữa độ tuổi dưới 30 (40,35%) với thâm niên dưới 5 năm (61,40%); và Biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu đánh giá mức độ thiếu hụt số lượng (59,46% thiếu) cùng chất lượng phẩm chất (56,76% tốt).
So với các công trình nghiên cứu về nhân lực du lịch khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, nghiên cứu này làm sáng tỏ điểm nghẽn đặc thù của Lâm Đồng: chất lượng đào tạo du lịch không bị nghẽn ở kiến thức lý thuyết hàn lâm mà bị giới hạn bởi kinh nghiệm cọ xát thực tế tại doanh nghiệp của đội ngũ giáo viên trẻ.
Đề xuất và khuyến nghị
Một là, kiện toàn bộ máy và chuẩn hóa tuyển dụng theo tiêu chuẩn nghề VTOS: Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chỉ đạo 6 trường rà soát vị trí việc làm, xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn giảng viên gắn với kinh nghiệm làm việc thực tế tại doanh nghiệp. Mục tiêu đến năm 2020 đạt 100% giảng viên dạy thực hành nghề có chứng chỉ kỹ năng nghề du lịch chuẩn hóa.
Hai là, đẩy mạnh đào tạo bồi dưỡng và đổi mới phương pháp giảng dạy: Ban giám hiệu các trường đại học, cao đẳng triển khai quy định bắt buộc giảng viên trẻ đi thực tế tối thiểu 2 tháng/năm tại các khách sạn 3-5 sao và doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn. Giai đoạn 2015 - 2020, nâng tỷ lệ giảng viên có trình độ thạc sĩ trở lên đạt trên 70% và 100% giảng viên hoàn thành chứng chỉ sư phạm dạy nghề.
Ba là, hoàn thiện chính sách đãi ngộ và tạo động lực làm việc: Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng ban hành cơ chế hỗ trợ tài chính đặc thù cho giảng viên dạy du lịch học tập nâng cao trình độ và nghiên cứu khoa học. Phấn đấu kéo giảm tỷ lệ luân chuyển hoặc bỏ việc của giảng viên chất lượng cao xuống dưới 3%/năm thông qua chính sách thưởng sáng kiến và phụ cấp nghề nghiệp thỏa đáng.
Bốn là, mở rộng hợp tác quốc tế và nâng cao năng lực ngoại ngữ: Khai thác hiệu quả Trung tâm thẩm định nghề du lịch VTOS do Liên minh châu Âu tài trợ tại Trường Cao đẳng nghề Du lịch Đà Lạt để tổ chức bồi dưỡng định kỳ cho 100% cán bộ, giảng viên trong tỉnh; phấn đấu đến năm 2020 có ít nhất 40% giảng viên giảng dạy được chuyên ngành bằng ngoại ngữ.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước (Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội): Sử dụng cơ sở dữ liệu thực chứng và các đề xuất trong luận văn để điều chỉnh Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020 theo Quyết định số 916/QĐ-UBND, đồng thời ban hành các cơ chế liên kết đào tạo - sử dụng lao động phù hợp.
Nhóm 2: Ban giám hiệu và Phòng Tổ chức - Cán bộ tại 6 trường đại học, cao đẳng đào tạo du lịch tại Lâm Đồng: Tham khảo dữ liệu cơ cấu giới tính (71,93% nữ) và thâm niên (61,40% dưới 5 năm) để xây dựng kế hoạch tuyển dụng, quy hoạch cán bộ nguồn và bố trí thời gian cho giảng viên tham gia các khóa thực tế doanh nghiệp.
Nhóm 3: Đội ngũ giảng viên, giáo viên dạy nghề du lịch: Nghiên cứu nội dung luận văn để nắm rõ các yêu cầu về chuẩn kỹ năng nghề VTOS và tiêu chuẩn nhà giáo theo Luật Giáo dục 2005, từ đó chủ động xây dựng lộ trình tự bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học và tích lũy kỹ năng thực hành nghề.
Nhóm 4: Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Du lịch, Quản trị nhân lực, Giáo dục học: Sử dụng luận văn như một tài liệu tham khảo điển hình về phương pháp khảo sát toàn thể đích danh (85 cán bộ, giảng viên) và cách thức ứng dụng mô hình Leonard Nadler trong nghiên cứu nhân lực ngành dịch vụ đặc thù.
Câu hỏi thường gặp
Tốc độ tăng trưởng số lượng giảng viên dạy du lịch tại Lâm Đồng giai đoạn 2009 - 2013 đạt bao nhiêu?
Giai đoạn 2009 - 2013, tổng số giảng viên dạy du lịch tại 6 trường tăng từ 43 lên 57 người, tương ứng tốc độ tăng 32,56%. Trong đó, Đại học Đà Lạt có mức tăng cao nhất đạt 57,14% (từ 7 lên 11 giảng viên), tiếp theo là Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật và Cao đẳng nghề Đà Lạt đều tăng 50%.
Tại sao phần lớn ý kiến khảo sát cho rằng số lượng giảng viên du lịch tại Lâm Đồng vẫn còn thiếu?
Mặc dù số lượng tăng 32,56%, có 59,46% ý kiến đánh giá vẫn thiếu giảng viên do lượng du khách tăng trưởng nhanh từ 2,5 triệu lên 4,5 triệu lượt và số cơ sở lưu trú đạt 812 cơ sở. Nhu cầu học nghề tăng đột biến khiến quy mô bình quân 9,5 giảng viên/trường không đáp ứng kịp khối lượng đào tạo.
Cơ cấu độ tuổi và thâm niên của đội ngũ giảng viên du lịch Lâm Đồng có điểm gì đáng lưu ý?
Đội ngũ giảng viên mang đặc thù rất trẻ nhưng thiếu kinh nghiệm thực tế. Tỷ lệ giảng viên dưới 40 tuổi chiếm tới 85,96% (trong đó dưới 30 tuổi chiếm 40,35%). Về thâm niên giảng dạy, có tới 61,40% giáo viên có tuổi nghề dưới 5 năm, và chỉ 8,77% có thâm niên công tác trên 10 năm.
Tiêu chuẩn nghề nào đang được các trường tại Lâm Đồng ứng dụng để chuẩn hóa năng lực giảng viên?
Các cơ sở đào tạo, đặc biệt là Trường Cao đẳng nghề Du lịch Đà Lạt, đang áp dụng Tiêu chuẩn Kỹ năng nghề Du lịch Việt Nam (VTOS) gồm 13 bộ tiêu chuẩn do Dự án EU tài trợ, kết hợp các quy định chuẩn hóa nhà giáo tại Điều 70 Luật Giáo dục 2005 và Điều 58 Luật Dạy nghề 2006.
Giải pháp nào được đề xuất để nâng cao kỹ năng thực tế cho đội ngũ giảng viên trẻ dưới 5 năm thâm niên?
Luận văn đề xuất giải pháp bắt buộc giảng viên trẻ tham gia luân chuyển thực tế tối thiểu 2 tháng/năm tại các khách sạn 3-5 sao và doanh nghiệp lữ hành, đồng thời tham gia các khóa đào tạo nâng ngạch và sát hạch nghiệp vụ tại Trung tâm thẩm định nghề VTOS của tỉnh.
Kết luận
- Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực đào tạo, dạy nghề du lịch dựa trên lý thuyết của Leonard Nadler và Goldstein.
- Đánh giá thực trạng toàn diện 85 cán bộ quản lý và giảng viên tại 6 trường trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, xác định tốc độ tăng trưởng nhân lực đạt 32,56% giai đoạn 2009 - 2013.
- Chỉ rõ 3 điểm nghẽn căn bản: 59,46% nhận định thiếu giảng viên, 61,40% có thâm niên dưới 5 năm, và năng lực thực hành nghề theo chuẩn VTOS cùng ngoại ngữ còn hạn chế.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về chuẩn hóa tuyển dụng, đào tạo thực tế doanh nghiệp, đãi ngộ tài chính và hợp tác quốc tế giai đoạn 2015 - 2020.
- Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc giúp tỉnh Lâm Đồng hiện thực hóa thành công Quyết định số 916/QĐ-UBND về quy hoạch phát triển nguồn nhân lực đến năm 2020.
Luận văn đóng góp một bức tranh toàn cảnh và giải pháp thiết thực cho công tác phát triển đội ngũ đào tạo du lịch tỉnh Lâm Đồng trong lộ trình đến năm 2020 và tầm nhìn 2030. Các cơ quan quản lý và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần khẩn trương phối hợp triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm chuẩn hóa đội ngũ giảng viên, đáp ứng yêu cầu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế động lực của tỉnh.