Chương I: Cơ sở lý luận về vấn đề tạo động lực làm việc trong doanh nghiệp và tô chức Chương Thực trạng tạo động lực làm việc cho nhân viên tại Công ty Cổ Phan Du lịch Dịch vụ Hà Nội. Chương III: Kiến nghị giải pháp tạo động lực làm việc cho người lao động tại Công ty Cổ Phần Du lịch Dịch vụ Hà Nội cho tới năm 2030. CHUONG "0 SO LY LUAN VE VAN DE TAO DONG LUC TRON DOANH NGHIEP VA TO CHUC 1. Một số định nghĩa cơ bản 1.
Động lực làm việc Trong các quá trình hoạt động sản xuất, doanh nghiệp để có hiệu quả, năng suất cao, thì bất kỳ doanh nghiệp, công ty, đơn vị nào cũng cần có một lực lượng lao. động, nhân viên mạnh. Ngoài những yếu tố về trình độ học vấn, kỹ năng làm việc, yếu tố TĐLLĐ, làm việc cũng là một trong các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả lao động của nhân viên. Đề tạo cho họ có động lực làm việc tích cực, hãng hái và khơi lên nguồn cảm hứng mới trong lao động, thì doanh nghiệp, công ty cần có những giải pháp tạo động lực hiệu quả.
Vậy, chúng ta cần biết được như thế nào là động lực và động lực làm việc. Mỗi thời điểm khách nhau đều có những quan điểm khác nhau liên quan tới động lực như: Động lực là yếu tố giúp định hướng, thúc đây và duy trì hành vi của một các nhân có chủ đích nhằm hoàn thành một mục tiêu nảo đó. Động lực ở mỗi người được cấu thành bởi các nhu cầu liên quan đến cảm xúc, bản năng, xã hội hay sinh lý Đông lực là sức mạnh tiềm ẩn bên trong con người hay là năng lượng, sự nhiệt huyết, niềm đam mê, khát khao, tham vọng, thúc đây chúng ta hoạt động, tiếp tục hướng tới và hoàn thành các mục tiêu đã đề ra Đông lực làm việc là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức. (Herzberg, 2017) Theo Rainey (2000) , Khi nói đến động lực, các nhà nghiên cứu thường nói đến mức độ mà một người bị kích thích đề tăng hiệu quả nhằm giành lấy mục tiêu do bản thân mong muốn.
Động lực làm việc đề cập đến tỉnh thần của một người cố gắng làm việc hiệu quả đến mức nảo trước sự khích lệ, định hướng và sự kiên trì trong một thời gian dài trong một môi trường làm việc. Mỗi tác giả đều có các khái niệm khác nhau về động lực và TĐLLV, nhưng ta có thê hiểu rằng: Kích thích làm việc là các yếu tố bên trong con người được thúc đây, được khích lệ đề tạo ra năng suất hiệu quả và dấu hiệu của động lực chính là sự siêng năng, chăm chỉ, ham mê trong công việc nhằm đóng góp, hướng đến mục tiêu chung của tổ chức, cũng như của người lao động. Đồng thời, động lực cũng có tác động rất lớn tới kết quả, hiệu suất đạt được của công việc của các cá nhân, đồng thời là doanh nghiệp. Căn cứ theo mô hình của Maier và Lawler (1973) về kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân như sau: Hiệu quả thực hiện công việc = Khả năng + Động lực Trong đó: Kha nang = Khả năng thích ứng + Giáo dục/huấn luyện + Yếu tố lực lượng.
Đông lực = Sự hy vọng + sự tự giác Như vậy, động lực có ảnh hưởng khá nhiều đối với kết quả hoàn thành nhi vụ của từng cá nhân. Khi nhắc đến động lực, thông qua mô hình trên, điều ta có thê nhắc đến đó là sự thúc đây, sự khao khát, quyết tâm khiến mỗi cá nhân người lao. động thực hiện công việc. Biểu hiện của động lực thể hiện khá rõ rằng như sự sẵn lòng, sẵn sàng của nhân viên khi tập trung cống hiến giá trí của bản thân nhằm phát triển, gia tăng mức độ phấn đấu nhằm hướng đến mục đích, một kết quả nhất định nao day.
Do vậy, để có được một đội ngũ nhân viên hoàn thành năng nổ, nhiệt thành, có sức công hiến cao thì người quản lý cần biết chính xác người lao động có nguyện vọng nào, mong muốn nhằm biết phương hướng giải quyết, chuyển đổi áp lực thành cơ hội góp phần khuyến khích người lao động có ý thức trong công việc. Nhu cầu của con người Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người, là nhu cầu, mong ước, nguyện vọng của con người đối với vật chất và tỉnh thần nhằm sinh tồn và phát triển tuỳ thuộc theo trình độ hiểu biết, môi trường xã hội, các đặc điềm sinh lý, từng cá nhân sẽ có các nhu câu khách nhau 10 “Nhu cầu là những đòi hỏi của cá nhân đề tồn tại và phát triển, nhu cầu thường là những đòi hỏi đi từ thấp tới cao, như cầu có tính phong phú, đa dạng, thay đổi theo bối cảnh như cá nhân và xã hội” (Bùi Anh Tuấn, 2009) Nhu cầu được định nghĩa là tính cấp thiết đối với một cái gì đó. Nhưng "cái gì đó" chính là hình thức biểu hiện bên ngoài của nhu cầu. Sau hình thức biểu hiện chứa đựng bản chất của nhu cầu mà chúng ta tạm dịch là "nhu yếu".
Nhu yếu đang nhắc đến cũng sẽ được hiêu là hình thức biều hiện của một nhu yếu khác căn bản hơn. Như vậy khái niệm nhu cầu và nhu yếu mang tính xắp xỉ với nhau. Điều đó cho biết thêm nhu cầu của tâm trí con người là được biểu thị theo hệ thống phức tạp, đa tầng lớp, gồm hàng loạt những chuỗi mắc xích của hình thức biêu hiện và nhu yếu kết nối chằng chịt, có khả năng tăng trưởng và mở rộng. Tuy nhiên, để dễ dàng nhận biết, một nhu cầu riêng biệt đơn giản nhất được hợp thành từ một nhu yếu và một hình thức biểu hiện.
Như vậy, ta sẽ thấy nhu cầu thực chất là một tình trạng tâm lý khi con người có nhu cầu muốn đáp ứng đối với một thứ gì đấy và mong muốn thoả mãn điều ấy, gắn chặt với sự duy trì và phát triển của con người, xã hộ Nhu cầu phân thành hai nhóm: Nhóm nhu cầu hữu hình và Nhóm nhu cầu vô hình. Nhu cầu về hữu hình thông thường sẽ hướng tới các nhu cầu liên quan tới vật chất nhằm duy trì và thúc đây con người tiến hóa, nhu cầu vô hình sẽ liên quan tới các vấn đề về đáp ứng tâm lý. Song hành cùng sự phát triển của đời sống kinh tế và xã hội hiện nay, sự nắm bắt, nghiên cứu về nhu cầu của người lao động là một cách quản lý hữu hiệu để những người lãnh đạo có những phương án, kế hoạch giúp đỡ người lao động làm việc hiệu quả, giúp lực lượng làm việc được yên tâm lao động, đóng góp hết mình những giá trị của bản thân cho nơi họ làm việc 1. Tạo động lực làm việc Một hệ thống nhân lực hoạt động hiệu quả, ngoại trừ việc giúp mỗi doanh nghiệp, công ty, tổ chức có một hệ thống nhân lực chất lượng, cả về quy mô và lẫn trình độ, thì cần nên biết cách phát triển, huấn luyện nhằm gìn giữ các giá trị tiềm ll ẩn nơi mỗi một nhân viên.
Mỗi người lao động đều có một giá trị riêng của bản thân, TĐLLĐ giống như việc "khai thác” giá trị đó theo hướng thỏa mãn cả hai bên doanh nghiệp và nhân viên. Theo FredericHerzberg (1959) trình bày quan điểm về động lực làm việc “Work motivation is desire and voluntary effort of the workforce toward achieving organizational objectives” hay ta có thể hiểu động lực làm việc là mong muốn và nỗ lực tự nguyện của lực lượng lao động hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức. Tuy nhiên, để thỏa mãn điều này, như đã trình bảy ở trên, trách nhiệm và mục. tiêu một phần cũng thuộc về phía tô chức lao động, doanh nghiệp chủ quản.
Tổ chức, doanh nghiệp có trách nhiệm nắm bat được các nhu cầu, động cơ làm việc của các cá nhân lao động và tìm cách làm sao để thỏa mãn trên cơ sở phù hợp. với điều kiện và mục tiêu của từng tô chức, doanh nghiệp. Đồng thời, cũng cần cho. người lao động thấy được lợi ích lâu dài về vật chất hay tinh thần mà họ có thể nhận lại từ sự cống hiến của bản thân họ.
Từ đó sản sinh ra niềm vui, sự hứng thú và nhiều sự sáng tạo mới mẻ sẽ xuất hiện trong quá trình làm việc và sự gắn bó với tô chức. Qua đó, có thê hiểu TĐLLV là quá trình phát triển nguồn động lực vốn có trong mỗi cá nhân người lao động: “Tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tô chức tác động đến người lao động nhằm làm. cho người lao động có động lực lao động trong công việc, thúc đây họ hải lòng hơn với công việc và nỗ lực phần đầu để đạt được các mục tiêu của bản thân và tô chức” (Bùi Anh Tuấn & Phạm Thúy Hương, 2011) Vậy thực chất của việc tạo động lực chính là xác định các nhu cầu của người lao động, thỏa mãn chúng một cách phù hợp để kích thích để họ nhận thấy giá trị của bản thân, từ đó làm việc tích cực, có tính tự giác, sáng tạo và năng suất, đem lợi ích chung cho mục tiêu của doanh nghiệp và tổ chức. Một số học thuyết liên quan tới tạo động lực làm việc 1.
Học thuyết Tháp nhu cầu của Maslow 'Vào năm 1943, một nhà tâm lý học người Mỹ có tên Abraham Maslow, trong bài viết “A Theory of Human Motivation” tam dịch: Học thuyết về động lực của 12 con người” trong Đánh giá tâm lý học. Lý thuyết này giúp chúng ta hiểu được động lực của con người và có thể sử dụng các yếu tố đó đề thúc đây, tác động lên hành vi của con người. Ông cho rằng, nhu cầu của con người được sắp xếp theo thứ tự từ thấp tới cao và chia nhu cầu của con người ra thành 5 bậc theo thứ tự từ thấp tới cao: Những nhu cầu về sinh lý, Những nhu cầu về sự an toàn, Những nhu cầu về xã hội, Những nhu cầu về sự tôn trọng và Những nhu cầu được hiện thực hóa Nhu cầu về sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản nhất của con người phục vụ cho mục đích tồn tại như không khí đề thở, nước để uống, thực phâm đề ăn,. Qua đây, có thê nhận thấy việc trả công cho người lao động cần đáp ứng tối thiểu những nhu cầu trên để giúp họ đảm bảo được cho cuộc sống của họ và gia đình họ.