Tổng quan nghiên cứu

Ngành du lịch tỉnh Thái Bình giai đoạn 2008 - 2012 ghi nhận sự bứt phá rõ rệt với tốc độ tăng trưởng lượng khách bình quân đạt 14%/năm. Năm 2008, toàn tỉnh đón 310.000 lượt khách, đến năm 2012 con số này đã tăng lên 525.000 lượt, trong đó khách quốc tế đạt 8.900 lượt. Doanh thu du lịch tăng trưởng mạnh mẽ với tốc độ bình quân 26,6%/năm, từ mức 15,7 tỷ đồng năm 2000 lên 90 tỷ đồng năm 2008 và đạt 172 tỷ đồng vào năm 2012, gấp 11 lần sau hơn một thập kỷ. Dù vậy, tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ du lịch vào tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) của tỉnh còn khiêm tốn, chỉ đạt 1,6% vào năm 2011 (tương đương 639 tỷ đồng).

Vấn đề cốt lõi cản trở du lịch Thái Bình phát triển tương xứng với tiềm năng sinh thái biển và di sản văn hóa phong phú chính là sự thiếu hụt nghiêm trọng về số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực. Toàn tỉnh chỉ có 864 lao động trực tiếp phục vụ trong 197 cơ sở kinh doanh du lịch và cơ quan quản lý, mật độ lao động trung bình chỉ đạt 4,13 người trên mỗi cơ sở. Đặc biệt, có đến 32% lao động chưa từng qua đào tạo nghiệp vụ, dẫn đến chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng tiêu chuẩn.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng nguồn nhân lực du lịch tỉnh Thái Bình giai đoạn 2008 - 2012, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp mang tính chiến lược nhằm phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2015 - 2020. Nghiên cứu bao quát toàn bộ lực lượng lao động tại cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh Thái Bình, tạo nền tảng vững chắc để chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo hướng dịch vụ bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết phát triển nguồn nhân lực trong ngành kinh tế dịch vụ kết hợp với quan điểm tiếp cận hệ thống về vốn con người. Theo đó, nguồn nhân lực du lịch được định nghĩa là toàn bộ lực lượng lao động trực tiếp và gián tiếp tham gia vào quá trình tạo ra, cung ứng sản phẩm dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách, bao gồm ba yếu tố cốt lõi: số lượng, chất lượng và cơ cấu tổ chức.

Khung phân tích của luận văn xây dựng hệ thống đánh giá đa chiều thông qua hai nhóm tiêu chí:

Nhóm tiêu chí định lượng: Bao gồm tỷ trọng lao động ngành du lịch so với dân số và lực lượng lao động trong độ tuổi lao động của địa phương; cơ cấu lao động phân theo giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ và thâm niên; tốc độ tăng trưởng nguồn nhân lực du lịch qua các năm dựa trên công thức tính biến động tỷ đối n = (N(t+1) - Nt) / Nt.

Nhóm tiêu chí định tính: Tập trung thẩm định chất lượng nội hàm của nhân lực thông qua trình độ học vấn phổ thông, chuyên môn nghiệp vụ du lịch, năng lực quản lý nhà nước, trình độ ngoại ngữ, kỹ năng sư phạm và đạo đức nghề nghiệp. Nghiên cứu nhấn mạnh ba khái niệm trọng tâm: nguồn nhân lực du lịch, phát triển nguồn nhân lực du lịch và quản lý nhà nước về nhân lực du lịch trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng nhằm đảm bảo tính khách quan và khoa học:

Nguồn dữ liệu và chọn mẫu: Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê tỉnh Thái Bình, báo cáo định kỳ của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình cùng các quy hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2008 - 2012. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa với tổng cỡ mẫu 276 phiếu, bao gồm 113 phiếu khảo sát người lao động trực tiếp, 113 phiếu khảo sát đại diện cơ sở kinh doanh du lịch và 50 phiếu điều tra ý kiến phản hồi của du khách. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho cả ba nhóm: khối quản lý nhà nước, khối đào tạo và khối doanh nghiệp lưu trú, lữ hành.

Phương pháp xử lý và phân tích: Tác giả thực hiện phỏng vấn sâu đối với cán bộ quản lý thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, lãnh đạo Ban Quản lý Di tích tỉnh, giảng viên Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Thái Bình và các nhà quản lý khách sạn. Các dữ liệu khảo sát được tổng hợp, mã hóa và xử lý bằng phần mềm Excel nhằm phân tích thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ phần trăm cơ cấu và đánh giá mức độ tương quan giữa năng lực chuyên môn với hiệu quả vận hành dịch vụ. Việc kết hợp phương pháp này giúp xác định chính xác những điểm nghẽn về chất lượng nhân lực trong thực tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu thực tế giai đoạn 2008 - 2012 cho thấy bức tranh nguồn nhân lực du lịch tỉnh Thái Bình bộc lộ nhiều điểm nghẽn đáng chú ý:

Thứ nhất, quy mô nhân lực trực tiếp rất khiêm tốn so với tiềm năng phát triển. Năm 2012, toàn tỉnh có 864 lao động trực tiếp ngành du lịch trên tổng số 1.050.000 người trong độ tuổi lao động và 1.780.000 dân số toàn tỉnh. Tỷ lệ lao động du lịch chỉ chiếm 0,73% dân số và 0,94% lực lượng lao động xã hội. Trong 864 lao động này, có 813 người (chiếm 94,09%) làm việc tại 197 cơ sở kinh doanh, 41 người (chiếm 4,75%) thuộc cơ quan quản lý nhà nước và 10 người (chiếm 1,16%) là giảng viên chuyên ngành tại Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật.

Thứ hai, cơ cấu đào tạo chuyên môn có sự bất cập lớn. Trong tổng số 864 lao động, chỉ có 196 người (chiếm 23%) được đào tạo đúng chuyên ngành du lịch ở các cấp bậc từ sơ cấp đến đại học. Có tới 668 người (chiếm 77%) chưa qua đào tạo hoặc được đào tạo từ các chuyên ngành khác chuyển sang. Xét theo trình độ văn hóa và bằng cấp, tỷ lệ chưa qua đào tạo chiếm đến 32% (280 người), chứng chỉ nghề chiếm 17% (145 người), trình độ cao đẳng hoặc trung cấp chiếm 25% (215 người), đại học chiếm 25% (215 người) và trình độ trên đại học chỉ chiếm 1% (9 người).

Thứ ba, sự mất cân đối về thâm niên công tác và giới tính. Lao động có thâm niên dưới 3 năm chiếm tỷ lệ áp đảo 53% (460 người), thâm niên từ 3 đến 9 năm chiếm 42% (359 người), trong khi nhóm lao động giàu kinh nghiệm trên 10 năm chỉ chiếm vỏn vẹn 5% (45 người). Về cơ cấu giới tính, lao động nữ chiếm 60% (447 người) và nam giới chiếm 40% (347 người), phản ánh tính chất dịch vụ buồng, bàn, lễ tân thu hút nhiều lao động nữ nhưng cũng cho thấy sự biến động nhân sự liên tục trong ngành.

Thứ tư, bất hợp lý trong phân bổ vị trí công tác. Tỷ lệ lao động giữ vị trí quản lý chiếm tới 20% (169 người) trên tổng số lao động, trong khi lực lượng nhân viên thừa hành chiếm 80% (695 người). Tỷ lệ quản lý lên tới 1/4 lực lượng nhân viên phản ánh mô hình kinh doanh manh mún, nhiều cơ sở tư nhân quy mô gia đình tự phong cấp quản lý nhưng thiếu kiến thức quản trị chuyên sâu.

Thảo luận kết quả

Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực xuất phát từ nguyên nhân du lịch Thái Bình vẫn là ngành kinh tế non trẻ, các doanh nghiệp chủ yếu là hộ kinh doanh cá thể hoặc doanh nghiệp vừa và nhỏ với 164 cơ sở lưu trú và ăn uống quy mô nhỏ. Doanh thu buồng ngủ chiếm 39%, ăn uống chiếm 37% và dịch vụ khác chỉ chiếm 24%, cho thấy các dịch vụ bổ trợ có giá trị gia tăng cao chưa phát triển.

Để làm rõ các phát hiện, dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cơ cấu học vấn dạng cột kết hợp bảng ma trận chéo giữa vị trí công tác và trình độ chuyên môn. Biểu đồ này sẽ thể hiện rõ nghịch lý: nhóm lao động có trình độ đại học tập trung phần lớn ở cơ quan quản lý nhà nước (chiếm trên 78%), trong khi tại các doanh nghiệp trực tiếp phục vụ khách, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo lại chiếm đa số.

So sánh với bài học kinh nghiệm từ tỉnh Khánh Hòa (nơi đã đào tạo hơn 900 cán bộ quản lý và chuẩn hóa hơn 13.000 lao động vào năm 2010) và tỉnh Quảng Ninh (nơi đạt tốc độ tăng trưởng doanh thu du lịch 37%/năm nhờ chiến lược liên kết đào tạo chuyên sâu với các trường đại học lớn), Thái Bình đang tụt lại phía sau về khả năng cung ứng dịch vụ đạt chuẩn. Khảo sát du khách cho thấy rào cản lớn nhất nằm ở kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ và tính chuyên nghiệp của nhân viên, đòi hỏi tỉnh phải có giải pháp đột phá thay vì đào tạo mang tính hình thức.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng giai đoạn 2015 - 2020, luận văn đề xuất bốn nhóm giải pháp hành động đồng bộ:

Thứ nhất, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và số hóa cơ sở dữ liệu nhân lực. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình cần chủ trì thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu điện tử quản lý 100% hồ sơ lao động du lịch trên địa bàn trước năm 2016. Ban hành quy chế phối hợp liên ngành nhằm kiểm tra, giám sát tiêu chuẩn nghề nghiệp tại các cơ sở lưu trú, phấn đấu 100% người quản lý doanh nghiệp du lịch được bồi dưỡng kiến thức pháp luật và quản trị chuyên ngành trước năm 2018.

Thứ hai, nâng cao chất lượng và quy mô đào tạo nghề du lịch theo nhu cầu xã hội. Ủy ban nhân dân tỉnh cần đầu tư nâng cấp Khoa Quản lý Văn hóa và Du lịch thuộc Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Thái Bình thành trung tâm đào tạo thực hành chất lượng cao. Đổi mới chương trình giảng dạy theo chuẩn kỹ năng nghề du lịch quốc gia, phấn đấu đến năm 2020 nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên ngành du lịch từ 23% lên tối thiểu 55%, xóa bỏ hoàn toàn tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo tại các cơ sở kinh doanh đạt chuẩn.

Thứ ba, thiết lập liên kết ba bên giữa Nhà nước, Cơ sở đào tạo và Doanh nghiệp. Hiệp hội Du lịch tỉnh cần phối hợp chặt chẽ với các trường đại học chuyên ngành tại Hà Nội để tổ chức các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn tại chỗ. Mục tiêu đến năm 2018, tổ chức tập huấn kỹ năng giao tiếp, nghiệp vụ buồng, bàn, bar và ngoại ngữ ứng dụng cho ít nhất 80% nhân viên trực tiếp phục vụ tại 197 cơ sở kinh doanh.

Thứ tư, hoàn thiện chính sách đãi ngộ, thu hút nhân tài và xã hội hóa nguồn lực đào tạo. Tỉnh cần thành lập Quỹ phát triển nguồn nhân lực du lịch dựa trên sự đóng góp của ngân sách và trích nộp từ doanh nghiệp. Ban hành chính sách ưu đãi về thu nhập và nhà ở để thu hút ít nhất 30 đến 50 chuyên gia quản trị lữ hành, khách sạn có trình độ đại học trở lên về địa phương làm việc trong giai đoạn 2015 - 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho bốn nhóm đối tượng chính:

Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch: Lãnh đạo và chuyên viên thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Phòng Văn hóa Thông tin cấp huyện, thành phố có thể sử dụng các số liệu thống kê và mô hình giải pháp để tham mưu xây dựng quy hoạch phát triển nhân lực du lịch địa phương đến năm 2020 và tầm nhìn 2030.

Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và trường đại học: Ban giám hiệu và giảng viên chuyên ngành du lịch tại Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Thái Bình cũng như các trường trong vùng Đồng bằng sông Hồng có thể sử dụng dữ liệu thực chứng để điều chỉnh khung chương trình đào tạo, gắn kết chặt chẽ bài giảng lý thuyết với đòi hỏi kỹ năng thực tế từ doanh nghiệp.

Chủ doanh nghiệp và nhà quản lý dịch vụ du lịch: Các nhà quản lý khách sạn, nhà hàng, đơn vị lữ hành trên địa bàn tỉnh có thể áp dụng bộ tiêu chí đánh giá định tính và định lượng để rà soát chất lượng nhân sự, xây dựng kế hoạch bồi dưỡng nội bộ và nâng cao năng lực cạnh tranh cho đơn vị.

Học viên, sinh viên và nhà nghiên cứu học thuật: Các học viên cao học chuyên ngành Du lịch, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Kinh tế phát triển có thể khai thác phương pháp luận, hệ thống bảng hỏi khảo sát và khung lý thuyết đánh giá nhân lực làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

Thực trạng trình độ chuyên môn của lao động du lịch Thái Bình có điểm gì đáng lưu ý?

Số liệu khảo sát năm 2012 chỉ ra rằng trong tổng số 864 lao động trực tiếp, chỉ có 23% (196 người) được đào tạo đúng chuyên ngành du lịch. Có tới 77% (668 người) làm việc trái ngành hoặc chưa từng qua đào tạo chuyên môn. Đáng chú ý, tỷ lệ lao động hoàn toàn chưa qua đào tạo chiếm đến 32% (280 người), tập trung chủ yếu tại các cơ sở lưu trú và ăn uống tư nhân.

Tốc độ tăng trưởng doanh thu du lịch của tỉnh trong giai đoạn nghiên cứu đạt mức nào?

Trong giai đoạn 2008 - 2012, tổng doanh thu du lịch tỉnh Thái Bình đạt mức tăng trưởng bình quân 26,6%/năm. Doanh thu tăng liên tục từ 90 tỷ đồng năm 2008 lên 105 tỷ đồng năm 2009, đạt 130 tỷ đồng năm 2010, 145 tỷ đồng năm 2011 và chạm mốc 172 tỷ đồng vào năm 2012, phản ánh tiềm năng tăng trưởng thương mại rất lớn của địa phương.

Tại sao tỷ lệ lao động nữ trong ngành du lịch Thái Bình lại chiếm ưu thế vượt trội?

Kết quả nghiên cứu năm 2012 ghi nhận tỷ lệ lao động nữ chiếm 60% (447 người) trong khi nam giới chỉ chiếm 40% (347 người). Sự chênh lệch 20% này phản ánh rõ đặc thù của hoạt động du lịch tại địa phương, nơi phần lớn cơ sở kinh doanh là dịch vụ lưu trú và ăn uống (164 cơ sở), đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ ở các vị trí lễ tân, phục vụ bàn và buồng phòng.

Luận văn đã đúc kết được những bài học kinh nghiệm nào từ các tỉnh bạn?

Từ thực tiễn phát triển của tỉnh Khánh Hòa và tỉnh Quảng Ninh, luận văn rút ra bốn bài học kinh nghiệm lớn: nâng cao vai trò định hướng của quản lý nhà nước, phát huy tính chủ động của doanh nghiệp trong đào tạo tại chỗ, đa dạng hóa nguồn tài chính thông qua Quỹ phát triển nhân lực và chuyển dịch mạnh sang đào tạo kỹ năng thực hành theo nhu cầu thực tế của thị trường.

Mục tiêu cốt lõi của giải pháp phát triển nhân lực giai đoạn 2015 - 2020 là gì?

Mục tiêu trọng tâm là nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đúng chuyên ngành từ 23% lên trên 55% vào năm 2020, chuẩn hóa 100% kỹ năng nghiệp vụ và ngoại ngữ cho nhân viên tuyến đầu tại các cơ sở kinh doanh đạt chuẩn, đồng thời xây dựng hệ thống quản lý dữ liệu điện tử đồng bộ phục vụ quy hoạch nhân lực toàn tỉnh.

Kết luận

Nghiên cứu khẳng định nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự thành công trong chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế du lịch tỉnh Thái Bình.

Bức tranh thực trạng giai đoạn 2008 - 2012 chỉ rõ sự mất cân đối lớn khi toàn tỉnh có 864 lao động trực tiếp nhưng có tới 77% chưa được đào tạo đúng chuyên môn du lịch và 32% chưa qua đào tạo nghề.

Hệ thống hóa bốn bài học kinh nghiệm giá trị từ các trung tâm du lịch lớn như Khánh Hòa và Quảng Ninh trong công tác xã hội hóa và liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng.

Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ giai đoạn 2015 - 2020 gồm tăng cường quản lý nhà nước, hiện đại hóa cơ sở đào tạo, liên kết ba bên và ban hành chính sách đãi ngộ thu hút nhân tài.

Kế hoạch hành động tiếp theo đòi hỏi các cơ quan ban ngành triển khai ngay đề án số hóa dữ liệu nhân lực từ năm 2015 và chuẩn hóa tiêu chuẩn nghề nghiệp tại các doanh nghiệp.

Luận văn là tài liệu tham khảo khoa học và thực tiễn có giá trị cao. Kính mời các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp cùng tham khảo, ứng dụng các giải pháp để nâng tầm chất lượng nguồn nhân lực du lịch Thái Bình trong giai đoạn mới.