phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu làm 3 chương, 7 tiết: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng. Chƣơng 2: Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên các trường Cao đẳng Y tế tại Hà Nội hiện nay: thực trạng và những vấn đề đặt ra. Chƣơng 3: Quan điểm chung và những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng trong việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng tại các trường Cao đẳng Y tế Hà Nội hiện nay. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG 1.
Thế giới quan duy vật biện chứng 1. Thế giới quan “Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người”, “đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên” [37, tr.135] vì vậy, khi sinh ra con người luôn có nhu cầu tìm hiểu về nó, người ta đã đặt ra rất nhiều câu hỏi như: Thế giới này có nguồn gốc từ đâu? Bản chất của nó là gì? Con người có thể nhận thức về thế giới hay không?. và đây chính là cơ sở hình thành nên thế giới quan của con người. Gắn liền với sự hình thành con người trên trái đất, thế giới quan xuất hiện từ thời nguyên thủy.
Song chỉ đến thế kỷ thứ XVIII thế giới quan mới được Cantơ, nhà triết học người Đức đề cập đến như một khái niệm khoa học. Các nhà triết học người Đức nửa đầu thế kỷ thứ XIX và các nhà triết học sau này đã sử dụng khái niệm thế giới quan trong các học thuyết của mình. Trong số này, đặc biệt phải kể đến Mác và Ăngghen, những nhà triết học đã sáng lập một nền triết học duy vật được coi là triệt để nhất và một thế giới quan được coi là khoa học nhất - thế giới quan duy vật biện chứng. Trong lịch sử tư tưởng của loài người đã có nhiều định nghĩa khác nhau về thế giới quan.
Chẳng hạn, đưa ra quan niệm về thế giới quan G.Gertx viết: “Chúng tôi hiểu thế giới quan như một hệ thống nhất định những lời giải đáp, những vấn đề về cội nguồn của thế giới và nguồn gốc, về ý nghĩa cuộc sống và đặc trưng của tiến bộ xã hội” [14, tr. Trong cuốn Từ điển Triết học, thế giới quan được định nghĩa như sau: “Toàn bộ những nguyên tắc, quan điểm và niềm tin quy định hướng hoạt động và quan hệ của từng người, của tập đoàn xã hội, của một giai cấp hay xã hội nói chung đối với thực tại” [50, 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các nhà triết học trên thế giới quan niệm, thế giới quan ra đời, hình thành, phát triển luôn gắn với sự phát triển của thực tiễn xã hội và sự hiểu biết thế giới của con người. Các nhà nghiên cứu ở Việt Nam cũng đã đưa ra các quan điểm khác nhau xung quanh khái niệm thế giới quan.
Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt, Minh Tâm đã định nghĩa: “Thế giới quan là hệ thống những quan điểm mang tính khái quát về thế giới nói chung, về những quy trình tự nhiên và xã hội được thực hiện trong thế giới đó, về mối quan hệ của con người đối với hiện thực xung quanh” [43, tr. Còn theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, thế giới quan là: “hệ thống tổng quát những quan điểm của con người về thế giới (toàn bộ sự vật thuộc hiện tượng tự nhiên và xã hội), về vị trí con người trong thế giới đó và về những quy tắc xử sự do con người đề ra trong thực tiễn xã hội” [19, tr. Từ các quan điểm nêu trên chúng ta có thể hiểu khái niệm thế giới quan như sau: Thế giới quan là hệ thống những quan điểm của một người hoặc một tập đoàn người, một giai cấp hay toàn xã hội về thế giới và về vị trí, vai trò của con người trong thế giới, làm cơ sở cho việc định hướng các hoạt động nhận thức, hoạt động cải tạo thế giới của họ, điều chỉnh hành vi của con người trong cuộc sống hàng ngày. Như vậy, thế giới quan đóng vai trò định hướng, chỉ dẫn cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người, đồng thời là phương thức mà con người tự ý thức được về bản thân mình.
Trong ý nghĩa đó, thế giới quan bao hàm cả nhân sinh quan, tức là toàn bộ những quan niệm về cuộc sống của con người hoặc cộng đồng người. Theo Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên thì “nhân sinh quan bao gồm lẽ sống, lối sống, lý tưởng sống của con người” [53, tr. Thế giới quan hình thành trên cơ sở những hiểu biết của con người về tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình. Nó được biểu hiện qua thái độ, các hành vi, hành 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động của chủ thể.
Thế giới quan chính là lập trường sống của chủ thể. Do đó, việc trang bị thế giới quan đúng đắn và khoa học sẽ giúp chủ thể có lập trường tư tưởng vững vàng trước những biến động trong cuộc sống xã hội và trước những đổi thay trong cuộc đời mình. Thế giới quan trực tiếp phụ thuộc vào trình độ hiểu biết của con người ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của một chế độ xã hội nhất định, phụ thuộc vào hệ tư tưởng thống trị trong mỗi một chế độ xã hội. Như vậy, thế giới quan mang tính lịch sử.
Trong xã hội có phân chia giai cấp, thế giới quan có tính giai cấp sâu sắc. Trong xã hội có đối kháng giai cấp, không thể có thế giới quan chung cho mọi giai cấp. Thế giới quan có thể là thế giới quan của một cá nhân, thế giới quan của một cộng đồng, thế giới quan của một giai cấp hoặc thế giới quan của một xã hội. Mỗi cá nhân dù ở giai cấp, tầng lớp nào bằng vốn sống, kinh nghiệm sống cũng có những tri thức nhất định về tự nhiên, xã hội và con người trong thế giới xung quanh.
Tri thức và niềm tin của mỗi người trong cuộc đời phát triển đến một mức độ nhất định sẽ tạo nên lý tưởng định hướng cho hoạt động của người đó. Các yếu tố tri thức, niềm tin, lý tưởng của mỗi người tạo thành “cái nhìn” về cuộc đời, từ góc độ triết học gọi là thế giới quan cá nhân. Sự hình thành thế giới quan cá nhân là quá trình lâu dài và phụ thuộc nhiều yếu tố, nhiều điều kiện khách quan. Thế giới quan cá nhân phụ thuộc vào trình độ hiểu biết của từng người, vào chế độ xã hội trong đó cá nhân sinh sống, vào địa bàn sinh sống, vào điều kiện vật chất, tinh thần của mỗi cá nhân, yếu tố giáo dục (gia đình, nhà trường, xã hội) và kinh nghiệm sống của mỗi người.
Chính vì vậy, trong cuộc đời, thế giới quan của mỗi người có thể bị thay đổi. Vì vậy, việc giáo dục thế giới quan đúng đắn, khoa học cho mỗi cá nhân là cần thiết trong một xã hội tiến bộ, mặt khác cần phải thường xuyên bồi dưỡng thế giới quan đã được giáo dục bằng nỗ lực học tập, học hỏi không ngừng để củng cố lập trường, thế giới quan đó. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thế giới quan cá nhân rất phong phú, đa dạng vì mỗi người đều có “cái tôi” riêng lẻ, mỗi người đều có một phong cách sống riêng. Nhưng cá nhân không bao giờ tồn tại tách biệt với xã hội.
Do đó, thế giới quan cá nhân còn có thế gắn liền với thế giới quan giai cấp và thế giới quan xã hội. Thế giới quan giai cấp là hệ thống quan điểm của một giai cấp về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó, thể hiện tư tưởng tiến bộ hay lạc hậu của giai cấp đó so với tiến trình lịch sử. Thế giới quan xã hội là hệ thống những quan niệm về thế giới, về vị trí của con người trong thế giới được xây dựng trên cơ sở các phạm trù và nguyên lý. Thế giới quan xã hội được trình bày trong học thuyết của giai cấp đại diện cho lợi ích của đông đảo nhân dân trong xã hội thể hiện tư tưởng, ý chí chung của đông đảo toàn xã hội.
Thế giới quan xã hội do các nhà tư tưởng xây dựng nên. Cấu trúc của thế giới quan gồm ba yếu tố cơ bản, đó là tri thức, niềm tin, lý tưởng. Tri thức: là sự hiểu biết của con người về thế giới, là kết quả của quá trình nhận thức thế giới. Tri thức là điều kiện cơ bản để hình thành thế giới quan.
Tri thức có nhiều loại: tri thức về tự nhiên, về xã hội và về con người. Tuy nhiên, không phải bất cứ tri thức nào của các lĩnh vực trên cũng nằm trong cấu trúc của thế giới quan. Những tri thức nào biểu hiện những quan điểm, nguyên lý, nguyên tắc phổ biến về tự nhiên, xã hội và con người mới nằm trong cấu trúc của thế giới quan. Niềm tin: là trạng thái tâm lý trong đó có sự hòa quyện của cả tri thức, tình cảm và ý chí.
Niềm tin mang bản chất xã hội, có tính giai cấp, tính thời đại. Niềm tin cũng phụ thuộc vào trình độ văn hóa, trình độ dân trí. Niềm tin là một trạng thái tâm lý, gắn với tồn tại người. “Niềm tin là một nhu cầu không thể thiếu của đời sống tinh thần con người, là một yếu tố tồn tại người, rất trừu tượng và cũng khó xác định cụ thể.
Không như một thực thể vật chất, 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com niềm tin tồn tại trong chiều sâu kín của ý thức, tư tưởng, tâm hồn, tình cảm của mỗi con người” [3, tr. Niềm tin có thể giúp con người vượt qua mọi trở ngại, khó khăn, làm cho con người trở nên mạnh mẽ phi thường trước những sóng gió cuộc đời. Nhờ có niềm tin, tri thức mới trở thành cơ sở cho hành động; giúp con người xác định mục tiêu hành động, phương châm sống, hình thành những hoài bão để vươn lên. Lý tƣởng: là hình thức đặc biệt của ý thức, giúp định hướng cho hành động của chủ thể.
Đó là sự kết hợp của niềm tin và tri thức vào một tiêu chí, mẫu hình nào đó về thế giới khách quan mà chủ thể chưa thực hiện được. Lý tưởng giúp con người định hình được cuộc sống, sống có mục đích, có khát vọng.