Chương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Chương 2: CẤU TRÚC CÁC ĐOẠN ĐỘC THOẠI NỘI TÂM TRONG NGÔN NGỮ KỂ TRUYỆN CỦA NAM CAO Chương 3: GIÁ TRỊ BIỂU HIỆN CỦA CÁC ĐOẠN ĐỘC THOẠI NỘI TÂM TRONG NGÔN NGỮ KỂ CHUYỆN CỦA NAM CAO 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LUẬN VĂN THẠC SỸ Cấu trúc độc thoại trong ngôn ngữ kể chuyện của Nam Cao CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Về các khái niệm độc thoại, đối thoại (theo quan điểm giao tiếp) Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phƣơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của con ngƣời. Nhờ ngôn ngữ mà con ngƣời có thể hiểu nhau trong quá trình lao động và sinh hoạt, nhờ ngôn ngữ mà con ngƣời có thể diễn đạt cho nhau hiểu đƣợc tƣ tƣởng, tình cảm, trạng thái và nguyện vọng của mình. Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tƣ tƣởng, trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành tƣ tƣởng.
Là công cụ giao tiếp, ngôn ngữ còn là công cụ của tƣ duy. Jakobson, ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu để truyền đạt qua một kênh thông tin giữa hai bên: thể phát và thể nhận (và ngƣợc lại). Đó chính là các hình thức giao tiếp bằng lời giữa ngƣời nói (SP1) với ngƣời nghe (SP2). Trong quá trình giao tiếp, có hai loại hình thức giao tiếp chủ yếu.
Đó là giao tiếp một chiều và giao tiếp nhiều chiều. Thế nào là giao tiếp một chiều, thế nào là giao tiếp nhiều chiều? Hình thức giao tiếp một chiều là hình thức giao tiếp chỉ có một bên nói, truyền thông tin, truyền đạt các tƣ tƣởng khác. và không quan tâm đến sự phản hồi; còn một bên chỉ tiếp nhận. Hình thức này thƣờng gặp trong mệnh lệnh quân sự, trong diễn văn, trong các bản báo cáo, trong các bài nói của phát thanh viên truyền thanh, truyền hình.
Không có sự hiện diện của hai đối tƣợng tham gia vào cuộc trao đổi (một chiều, cách mặt). Đó chính là độc thoại (còn gọi là đơn thoại, monologue). Với đơn thoại “ngƣời ta chỉ quan tâm tới. lời nói hay là diễn ngôn của anh ta mà không quan tâm tới phản ứng hồi đáp” [Đỗ Hữu Châu & Bùi Minh Toán 1993: 226].
Còn trong hình thức giao tiếp bình thƣờng thì có ngƣời nói, ngƣời 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LUẬN VĂN THẠC SỸ Cấu trúc độc thoại trong ngôn ngữ kể chuyện của Nam Cao nghe và có sự hồi đáp qua lại (luân phiên lƣợt lời). Sự phản hồi này đã thay đổi vai trò của các đối tƣợng tham gia giao tiếp: bên nghe trở thành bên nói và bên nói trở thành bên nghe. Đó là hội thoại (dialogue). Hoạt động giao tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất của con ngƣời là hội thoại.
Thực tế, đã nói tới giao tiếp ngôn ngữ là nói tới hội thoại (ngƣời nói phải có ngƣời nghe). Ngƣời nói, với mục đích chuyển tải những suy nghĩ, tình cảm. (theo chiến lƣợc giao tiếp cụ thể) của mình và mong nhận đƣợc sự phản hồi từ phía “đối tác”. Cứ thế, sự hồi đáp xuất hiện và cuộc trao đổi đƣợc duy trì.
Vì vậy, vấn đề hội thoại đƣợc đặc biệt quan tâm trong ngữ dụng học. Nó là bộ phận chủ yếu của ngữ dụng học vĩ mô (A: macropragmatics). Tuy nhiên trong luận văn này chúng tôi chủ yếu chỉ đề cập tới khái niệm độc thoại mà thôi. Nhƣ vậy, độc thoại đƣợc hiểu là hình thức giao tiếp trong đó chỉ một bên nói còn một bên tiếp nhận.
Không có phản ứng của một ngƣời thứ hai và không bị tác động và chi phối bởi các nhân tố ngôn cảnh. Chủ đề, bố cục, diễn biến theo mạch nội dung hoàn toàn có thể tuân thủ theo một logic định trƣớc của ngƣời nói (hoặc ngƣời viết). Độc thoại, chiết tự có nghĩa là “nói một mình”. Đó là một trong những hoạt động giao tiếp khá phổ biến mà ta thƣờng hay gặp trong khá nhiều trƣờng hợp, đặc biệt là khi tiếp nhận văn bản.
Vấn đề đặt ra là: ngôn ngữ độc thoại có đặc trƣng gì (tƣơng đồng và khác biệt) so với ngôn ngữ giao tiếp nói chung? Nhƣ chúng ta đã biết ngôn ngữ đƣợc coi là một hoạt động quan trọng của con ngƣời “Nói chính là hành động” (J. Ngôn ngữ mang bản chất xã hội. Chức năng giao tiếp xã hội của ngôn ngữ thể hiện ở chức năng thông báo, chức năng trao đổi, chức năng giáo dục và chức năng thẩm mĩ. Ngôn ngữ độc thoại là một dạng thức ngôn ngữ nằm trong hệ thống mang tính chuẩn mực nhƣng cũng rất sinh động, rất đa 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LUẬN VĂN THẠC SỸ Cấu trúc độc thoại trong ngôn ngữ kể chuyện của Nam Cao dạng và nó cũng mang trong mình cả bốn chức năng của ngôn ngữ.
Do những đặc thù của độc thoại mà ngôn ngữ độc thoại là thứ ngôn ngữ phản ánh những bản chất sâu xa của những hiện tƣợng ngữ nghĩa - ngữ dụng của ngôn ngữ. Nói một cách cụ thể ngôn ngữ độc thoại mang đậm phong cách văn bản, thể hiện trong hàng loạt các thể loại văn bản: hành chính sự vụ, chính luận khoa học, văn học nghệ thuật. Vì vậy, ngôn ngữ ở đó đƣợc sắp xếp một cách trình tự, bài bản, chuẩn mực, lời lẽ đƣợc gọt giũa. Theo Đỗ Hữu Châu “Trong quá trình nói và viết đó, ngƣời nhận bị trừu tƣợng hoá, xem nhƣ không có mặt, nhƣ không có ảnh hƣởng gì tới việc nói và viết cả” và “nó xuất phát từ nguyên lí câu chỉ có một chiều: ngƣời nói (viết) - câu” [Đỗ Hữu Châu & Bùi Minh Toán 1993: 227].
Cũng vì thế, nghiên cứu ngôn ngữ độc thoại thƣờng chú trọng phƣơng diện cấu trúc, tổ chức, hình thức độc thoại, liên kết và sự mạch lạc trong các phát ngôn, v. Độc thoại là một hình thức giao tiếp. Một bài diễn văn, một bài thơ, một cuốn tiểu thuyết,. do ai đó đọc hoặc viết ra cũng nhằm mục đích là hƣớng tới một cuộc trao đổi.
Có điều, đối tƣợng trao đổi ở đây gần nhƣ đã đƣợc xác định, thuần nhất hơn (một bài báo viết về bóng đá dĩ nhiên phải có đích cho những ai quan tâm tới thể thao. Chủ đề, nội dung cũng ít có sự xáo trộn, biến thiên bất ngờ nhƣ trong đối thoại. Sự giao tiếp là một hoạt động của con ngƣời trong xã hội. Vì thế khi nghiên cứu về độc thoại không thể bỏ qua những yếu tố liên quan đến con ngƣời và xã hội nhƣ tâm lí, phong tục, văn hoá, dân tộc.
Và phƣơng pháp phân tích ngôn ngữ độc thoại chủ yếu là phƣơng pháp phân tích câu, phân tích văn bản cũng nhƣ những khái niệm về hệ thống, cấu trúc ngôn ngữ. Đặc thù của độc thoại là hình thức giao tiếp một chiều, cấu trúc cũng đa dạng và phong phú, có thể phục vụ truyền tải thông tin, mệnh lệnh 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LUẬN VĂN THẠC SỸ Cấu trúc độc thoại trong ngôn ngữ kể chuyện của Nam Cao hoặc báo cáo, diễn thuyết. Cho nên ứng với mỗi mục đích giao tiếp cụ thể mà độc thoại có hình thức thể hiện riêng sao cho thích hợp. Các dạng độc thoại trên văn bản Các kiểu văn bản, các thể loại văn bản và các phong cách của văn bản riêng lẻ là sản phẩm của hoạt động lời nói.
Chúng thuộc bình diện của lời nói. Ngôn ngữ độc thoại là thứ ngôn ngữ trình bày và ngôn ngữ biểu hiện bao gồm cả tính nghệ thuật và phi nghệ thuật của ngôn ngữ. Độc thoại trên văn bản cũng có rất nhiều kiểu loại khác nhau. Văn bản vốn đƣợc xây dựng theo một phong cách chức năng thƣờng có nhiều kiểu.
Trƣớc khi bắt tay vào công việc miêu tả chính của mình, chúng tôi xin dừng lại đôi chút để bàn về các thuật ngữ văn bản và diễn ngôn. Văn bản với vai trò là đối tƣợng nghiên cứu của ngôn ngữ học có rất nhiều cách hiểu khác nhau. Đến nay số lƣợng các định nghĩa về văn bản đã nhanh chóng tăng lên đến mức không dễ dàng kiểm soát đƣợc. Chúng tôi xin trích dẫn một vài định nghĩa làm ví dụ, và điều đáng chú ý là với các định nghĩa này không phải ở đâu ngƣời ta cũng để ý đến sự phân biệt văn bản với diễn ngôn: 1.
“…văn bản đƣợc xét nhƣ một lớp phân chia đƣợc thành các khúc đoạn. “ Văn bản đƣợc hiểu ở bậc điển thể là phát ngôn bất kì có kết thúc và có liên kết, có tính chất độc lập và đúng ngữ pháp”. Văn bản “là chuỗi nối tiếp của các đơn vị ngôn ngữ đƣợc làm thành bởi một dây chuyền của các phƣơng tiện thế có hai trắc diện”. (trục dọc và trục ngang D.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LUẬN VĂN THẠC SỸ Cấu trúc độc thoại trong ngôn ngữ kể chuyện của Nam Cao 4. “Chúng ta sẽ gọi cái khách thể của xuyên ngôn ngữ học (translinguistique) là diễn ngôn (discourse)- tƣơng tự với văn bản (texte) do ngôn ngữ học nghiên cứu, và chúng ta sẽ định nghĩa nó (hãy còn là sơ bộ ) nhƣ là một đoạn lời nói hữu tận bất kì, tạo thành một thể thống nhất xét từ quan điểm nội dung, đƣợc truyền đạt cùng với những mục đích giao tiếp thứ cấp, và có một tổ choc nội tại phù hợp với những mục đích này, vả lại (đoạn lời này) gắn bó với những nhân tố văn hoá khác nữa, ngoài những nhân tố có quan hệ đến bản thân ngôn ngữ (langue)” (Barthes, 1970). “Một văn bản là một đơn vị của ngôn ngữ trong sử dụng. Nó không phảI là một đơn vị ngữ pháp loại nhƣ một mệnh đề hay một câu; mà nó cũng không đƣợc xác định bằng kích cỡ của nó […] Một văn bản không phải là một cái gì loại nhƣ một câu, chỉ có điều là lớn hơn; mà nó là một cái khác với một câu về mặt chủng loại.
Tốt hơn nên xem xét một văn bản nhƣ là một đơn vị nghĩa: một đơn vị không phải của hình thức mà là của ý nghĩa. “Văn bản có thể định nghĩa là điều thông báo viết có đặc trƣng là tính hoàn chỉnh về ý và cấu trúc và thái độ nhất định của các tác giả đối với điều đƣợc thông báo […] Về phƣơng diện cú pháp, văn bản là một hợp thể nhiều câu (ít khi là một câu) liên kết với nhau bởi ý và bằng các phƣơng tiện từ vựng- ngữ pháp”. “Nói một cách chung nhất thì văn bản là một hệ thống mà trong đó các câu mới chỉ là các phần tử. Ngoài các câu- phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc.