Tổng quan nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Việt Nam nhưng hiệu quả vận hành thực tế đang bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Trong giai đoạn 2006-2010, khối doanh nghiệp nhà nước chỉ tạo ra bình quân 28% GDP, giảm 2% so với giai đoạn 2001-2005, dù nắm giữ nguồn lực khổng lồ với tổng vốn đầu tư tại 18 tập đoàn kinh tế lên tới 840 nghìn tỷ đồng, chiếm 83% tổng vốn đầu tư của nhà nước vào sản xuất kinh doanh năm 2013. Căn nguyên sâu xa của tình trạng kém hiệu quả và thất thoát tài sản bắt nguồn từ cơ chế quản lý kiêm nhiệm, khi các bộ, ngành và chính quyền địa phương vừa thực hiện quản lý hành chính nhà nước, vừa đóng vai trò đại diện chủ sở hữu vốn, dẫn đến xung đột lợi ích và tình trạng vừa đá bóng vừa thổi còi.

Nhằm giải quyết triệt để vấn đề này, đề tài nghiên cứu quá trình chuyển đổi phương thức quản lý vốn nhà nước từ mệnh lệnh hành chính sang cơ chế quản trị chuyên nghiệp, tập trung thông qua trường hợp của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC). Mục tiêu cụ thể của luận văn là làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng phân cấp, phân quyền và kết quả hoạt động đại diện vốn của SCIC trong giai đoạn 2006-2015, đồng thời so sánh với các bài học quốc tế để kiến nghị giải pháp chính sách phù hợp.

Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở khoa học để tái định hình mô hình cơ quan quản lý vốn nhà nước quy mô lớn, gia tăng tính minh bạch, nâng cao tỷ suất sinh lời của đồng vốn công và bảo vệ lợi ích quốc gia trong tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng kết hợp giữa các học thuyết kinh tế công và quản trị công hiện đại nhằm phân tích toàn diện các khiếm khuyết trong quản lý vốn nhà nước:

Thứ nhất, lý thuyết kinh tế công về bất cân xứng thông tin, rủi ro đạo đức của George Akerlof và hiện tượng lựa chọn công chỉ ra rằng khi người đại diện không phải chịu toàn bộ trách nhiệm tài chính cho các quyết định quản lý, tâm lý ỷ lại sẽ xuất hiện và làm sai lệch động cơ tối ưu hóa nguồn lực công.

Thứ hai, lý thuyết quản trị nhà nước của Ngân hàng Thế giới tập trung vào cơ chế phân cấp, phân quyền và trách nhiệm giải trình, khẳng định sự cần thiết của các công cụ đánh giá độc lập và chế tài minh bạch.

Thứ ba, khung phân loại của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) năm 2005 về 3 mô hình quản lý vốn nhà nước: mô hình phi tập trung hóa truyền thống (quản lý theo ngành), mô hình kép (chia sẻ trách nhiệm giữa bộ ngành và Bộ Tài chính) và mô hình tập trung hóa (quy về một đầu mối chuyên nghiệp). Bộ Nguyên tắc quản trị công ty của OECD nhấn mạnh yêu cầu tách bạch rạch ròi giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát hành chính.

Hệ thống khái niệm nòng cốt được chuẩn hóa theo Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 và Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp số 69/2014/QH13, bao gồm: doanh nghiệp nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, cơ quan đại diện chủ sở hữu, người đại diện theo ủy quyền và vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phân tích dữ liệu thứ cấp và phương pháp so sánh đối chiếu trường hợp điển hình:

  • Nguồn dữ liệu: Thu thập từ hệ thống báo cáo tài chính, báo cáo quản trị nội bộ giai đoạn 2006-2015 của SCIC, các niên giám thống kê tài chính doanh nghiệp, báo cáo của Văn phòng Chính phủ và hệ thống văn bản pháp quy liên quan như Nghị định 99/2012/NĐ-CP, Nghị định 57/2014/NĐ-CP.
  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Cỡ mẫu khảo sát thực chứng bao quát toàn bộ danh mục 965 doanh nghiệp được bàn giao về SCIC từ khi thành lập đến hết năm 2013. Đồng thời, nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu mục đích để khảo sát 4 mô hình quản lý vốn nhà nước tiêu biểu tại châu Á gồm Temasek (Singapore), SASAC và SDIC (Trung Quốc), Khazanah (Malaysia).
  • Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Việc kết hợp phân tích thể chế định tính và so sánh quốc tế cho phép làm rõ các xung đột lợi ích sâu xa, đánh giá tác động của khung pháp lý đối với hành vi của các chủ thể quản trị mà các mô hình hồi quy định lượng đơn thuần không thể phản ánh đầy đủ. Timeline nghiên cứu tập trung sâu vào mốc 10 năm đầu vận hành mô hình SCIC (2006-2015).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực chứng giai đoạn 2006-2015 chỉ ra 4 phát hiện quan trọng về hoạt động của SCIC:

Thứ nhất, quy mô vốn và số lượng doanh nghiệp bàn giao về SCIC còn rất hạn chế so với tổng thể khu vực doanh nghiệp nhà nước. Tính đến ngày 31/12/2013, lũy kế số doanh nghiệp chuyển giao về SCIC là 965 đơn vị với tổng giá trị vốn nhà nước theo sổ sách đạt 7.915 tỷ đồng (sau thoái vốn còn 7.617 tỷ đồng). Tỷ lệ vốn do SCIC đại diện chỉ chiếm khoảng 0,75% trên tổng quy mô 1.012 nghìn tỷ đồng vốn nhà nước tại các doanh nghiệp trên toàn quốc năm 2013. Ngay cả khi tính gộp toàn bộ vốn chủ sở hữu của SCIC (29.865 tỷ đồng), tỷ lệ này cũng chỉ đạt 3,7%. Danh mục tiếp nhận chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó 52,16% thuộc nhóm B2 nhưng vốn nhà nước chỉ chiếm 10,5%, và chỉ có 1,5% số doanh nghiệp có quy mô vốn trên 100 tỷ đồng.

Thứ hai, hoạt động thoái vốn và tái cấu trúc đạt kết quả tích cực về giá trị gia tăng nhưng tốc độ bàn giao mới giảm sút nghiêm trọng. Đến quý I/2015, SCIC đã thoái hết vốn tại 682 doanh nghiệp và bán bớt vốn tại 73 doanh nghiệp. Tỷ lệ doanh nghiệp bán hết vốn bình quân toàn thời kỳ đạt 17,5% danh mục hàng năm (đạt đỉnh 36% năm 2009). Tổng doanh thu bán vốn đạt hiệu quả cao với tỷ lệ giá thị trường thu về trên giá vốn sổ sách bình quân đạt 2,3 lần (đạt mức cao nhất 3,0 lần năm 2008 và thấp nhất 1,9 lần các năm 2009, 2011).

Thứ ba, hoạt động đầu tư kinh doanh vốn còn thụ động và cơ cấu doanh thu phụ thuộc lớn vào tiền gửi ngân hàng. Năm 2012, cơ cấu lợi nhuận của SCIC ghi nhận 55,32% đến từ cổ tức của một số ít doanh nghiệp lớn, 40,32% đến từ lãi tiền gửi ngân hàng (tương đương 1.568 tỷ đồng từ khoản tiền gửi tích lũy gần 20.000 tỷ đồng) và chỉ có 4,36% đến từ hoạt động bán vốn. Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư hàng năm chỉ dao động từ 53% (năm 2013) đến 72% (năm 2014) so với kế hoạch được duyệt.

Thứ tư, công tác quản trị người đại diện từng bước được chuyên môn hóa nhưng vẫn chịu sự can thiệp hành chính. Tỷ lệ người đại diện là cán bộ chuyên trách của SCIC tăng từ 2% năm 2009 lên 16% năm 2015 trên tổng số 395 người đại diện vốn, giúp giảm bớt tình trạng người đại diện phụ thuộc vào doanh nghiệp sở tại.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến quy mô SCIC bị thu hẹp là do thiếu vắng chế tài pháp lý bắt buộc chuyển giao. Tính đến năm 2014, vẫn còn 87 doanh nghiệp với 2.723 tỷ đồng vốn nhà nước thuộc diện chuyển giao nhưng các bộ, ngành và địa phương chưa bàn giao. Tâm lý cục bộ và lợi ích nhóm từ các cơ quan quản lý ngành khiến quá trình tập trung hóa bị cản trở. Bên cạnh đó, việc áp đặt cơ chế tài chính doanh nghiệp nhà nước thông thường lên SCIC với yêu cầu bảo toàn vốn tuyệt đối trên từng khoản đầu tư đã triệt tiêu động lực chấp nhận rủi ro thị trường. Điển hình như tại Đại hội đồng cổ đông năm 2013 của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam, SCIC đã phủ quyết phương án phát hành cổ phiếu ưu đãi cho người lao động chỉ nhằm mục đích duy trì tỷ lệ sở hữu nhà nước 45,92%, thể hiện tư duy bảo toàn phần vốn thay vì thúc đẩy giá trị doanh nghiệp.

Đối chiếu với các mô hình quốc tế, Temasek của Singapore quản lý danh mục tài sản ròng 223 tỷ đô la Singapore (khoảng 175 tỷ USD) năm 2014, đóng góp 10,3% GDP và được xếp hạng tín nhiệm AAA nhờ cơ chế vận hành hoàn toàn theo thị trường và không chịu sự can thiệp từ Bộ Tài chính. Tại Trung Quốc, Ủy ban SASAC quản lý tập trung tài sản tại các tập đoàn then chốt (giảm từ 190 xuống 117 tập đoàn năm 2012), giúp lợi nhuận tăng từ 300 tỷ RMB năm 2003 lên 1.000 tỷ RMB năm 2007 (chiếm hơn 4% GDP). Tập đoàn SDIC của Trung Quốc đạt tổng tài sản 461,7 tỷ RMB năm 2014 nhờ mô hình tích hợp giữa đầu tư và kinh doanh vốn linh hoạt. Quỹ Khazanah của Malaysia đạt tốc độ tăng trưởng kép danh mục 12,5% hàng năm, nâng giá trị ròng lên 103,5 tỷ RM năm 2013.

Các dữ liệu nghiên cứu này có thể được biểu diễn trực quan thông qua bảng so sánh đa tiêu chí giữa SCIC và các mô hình quốc tế, kết hợp biểu đồ cột phân bổ nguồn thu và biểu đồ đường thể hiện tương quan giữa tỷ lệ thoái vốn và hệ số giá bán trên giá sổ sách qua từng năm.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết các vướng mắc thể chế và nâng cao hiệu quả quản trị vốn nhà nước, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

Thứ nhất, thành lập Cơ quan chuyên trách quản lý, giám sát vốn và tài sản nhà nước tập trung trực thuộc Chính phủ theo mô hình Ủy ban SASAC trong lộ trình 2016-2018. Cơ quan cấp bộ độc lập này sẽ đại diện chủ sở hữu đối với 100% các tập đoàn, tổng công ty kinh tế lớn, chấm dứt hoàn toàn quyền đại diện chủ sở hữu của các bộ quản lý ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, qua đó phân định triệt để chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với quản trị kinh doanh.

Thứ hai, ban hành quy chế bắt buộc và chế tài xử lý nghiêm đối với các cơ quan chậm bàn giao vốn nhà nước. Chính phủ cần chỉ đạo hoàn tất 100% việc chuyển giao toàn bộ 87 doanh nghiệp còn tồn đọng với tổng vốn 2.723 tỷ đồng về đầu mối chuyên trách trong vòng 12-24 tháng. Đồng thời, cho phép áp dụng cơ chế định giá thoái vốn linh hoạt theo giá trị giao dịch thực tế trên thị trường chứng khoán, bãi bỏ quy định cứng nhắc về giá bán không thấp hơn giá trị sổ sách đối với các doanh nghiệp thua lỗ kéo dài.

Thứ ba, tái cơ cấu toàn diện quyền tự chủ đầu tư và tài chính cho SCIC. Giao quyền tự chủ tuyệt đối cho Hội đồng thành viên SCIC trong việc phê duyệt các dự án đầu tư kinh doanh vốn theo nguyên tắc thị trường vì mục tiêu lợi nhuận, nâng tỷ lệ giải ngân danh mục đầu tư hàng năm lên trên 85%, đồng thời đánh giá hiệu quả bảo toàn vốn trên tổng thể danh mục đầu tư thay vì từng dự án riêng lẻ.

Thứ tư, chuẩn hóa cơ chế quản trị nhân sự và đãi ngộ cho đội ngũ 395 người đại diện vốn. Xây dựng quy chế trả lương, thưởng gắn liền với chỉ số đánh giá hiệu quả công việc và kết quả kinh doanh định kỳ 3 năm theo hình thức Hợp đồng kết quả, tăng tỷ lệ người đại diện chuyên trách của SCIC tại các doanh nghiệp trọng điểm lên trên 40% nhằm nâng cao tính chủ động và trách nhiệm giải trình.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống giải pháp của công trình nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách tại Ban Kinh tế Trung ương, Văn phòng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính: Vận dụng cơ sở lý luận và bằng chứng thực nghiệm để soạn thảo các nghị định hướng dẫn Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý sử dụng vốn nhà nước và đề án thành lập cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn chuyên trách.

Thứ hai, ban lãnh đạo và cán bộ quản lý danh mục tại SCIC và các quỹ đầu tư quốc gia: Tham khảo các tiêu chí phân loại danh mục đầu tư (A1, A2, B1, B2), chiến lược thoái vốn tối ưu hóa thặng dư thị trường và mô hình quản trị người đại diện vốn theo chuẩn OECD.

Thứ ba, Hội đồng thành viên và Ban điều hành các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp có vốn nhà nước: Nắm bắt xu hướng chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu, từ đó chủ động tái cấu trúc quản trị nội bộ, xử lý nợ tồn đọng và chuẩn bị phương án cổ phần hóa minh bạch.

Thứ tư, các chuyên gia, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Chính sách công, Kinh tế phát triển, Tài chính công: Sử dụng dữ liệu thực chứng 10 năm của SCIC và hệ thống lý thuyết kinh tế công để phát triển các nghiên cứu chuyên sâu về cải cách khu vực kinh tế công.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao cần tách bạch chức năng quản lý nhà nước và đại diện chủ sở hữu vốn? Cơ chế kiêm nhiệm khiến cơ quan hành chính vừa ban hành chính sách vừa kinh doanh, dẫn đến thiên vị và triệt tiêu động lực cạnh tranh bình đẳng. Tách bạch hai chức năng giúp tăng tính minh bạch, nâng cao trách nhiệm giải trình và ngăn chặn các đại án thất thoát tài sản công như từng xảy ra tại Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Vinashin.

Đâu là nguyên nhân khiến quy mô vốn do SCIC quản lý chiếm tỷ trọng rất nhỏ? Nguyên nhân chủ yếu do các bộ, ngành và địa phương chần chừ chuyển giao để duy trì quyền lợi quản lý. Đến năm 2014, vẫn còn 87 doanh nghiệp với 2.723 tỷ đồng vốn nhà nước bị giữ lại tại 48 đơn vị chưa hoàn tất bàn giao do thiếu vắng các chế tài xử phạt hành chính mang tính ràng buộc.

Hoạt động bán vốn của SCIC đạt hiệu quả kinh tế ra sao trong giai đoạn 2006-2015? SCIC đã thực hiện thoái hết vốn tại 682 doanh nghiệp và bán bớt vốn tại 73 doanh nghiệp. Doanh thu bán vốn đạt hiệu quả vượt bậc khi tỷ lệ giá trị thị trường thu về trên giá vốn sổ sách bình quân toàn giai đoạn đạt 2,3 lần, cá biệt năm 2008 đạt mức 3,0 lần.

Mô hình Temasek của Singapore mang lại bài học then chốt nào cho Việt Nam? Temasek chứng minh rằng doanh nghiệp vốn nhà nước có thể vận hành xuất sắc nếu được trao quyền tự chủ hoàn toàn theo cơ chế công ty tư nhân. Tập đoàn quản lý danh mục 223 tỷ SGD với xếp hạng AAA nhờ chiến lược đầu tư sinh lời toàn cầu và không chịu sự can thiệp từ Bộ Tài chính.

Tại sao hoạt động đầu tư mới của SCIC triển khai còn chậm và doanh thu phụ thuộc vào tiền gửi? SCIC chịu ràng buộc bởi quy định bảo toàn vốn cứng nhắc và cơ chế phê duyệt đầu tư phức tạp. Năm 2012, lợi nhuận từ lãi gửi ngân hàng chiếm tới 40,32% (1.568 tỷ đồng) do doanh nghiệp lựa chọn giải pháp an toàn trong bối cảnh tỷ lệ giải ngân dự án mới chỉ đạt 53% đến 72%.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định chuyên môn hóa chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả nền kinh tế và khắc phục tình trạng phân tán quyền lực quản lý.
  • Mô hình thí điểm SCIC đạt nhiều kết quả tích cực trong thoái vốn tại 682 doanh nghiệp với hệ số chênh lệch giá thị trường trên giá vốn đạt 2,3 lần, nhưng quy mô vốn tiếp nhận còn quá nhỏ bé, chỉ chiếm 0,75% tổng vốn doanh nghiệp nhà nước toàn quốc năm 2013.
  • Rào cản lớn nhất đối với SCIC là sự can thiệp hành chính, thiếu chế tài chuyển giao bắt buộc và cơ chế tài chính chưa trao quyền tự chủ đầu tư kinh doanh thực chất theo nguyên tắc thị trường.
  • Bài học từ Temasek, SASAC, SDIC và Khazanah cho thấy Việt Nam cần sớm thiết lập một Ủy ban Giám sát và Quản lý vốn nhà nước tập trung cấp trung ương và chuyển đổi SCIC thành định chế đầu tư tài chính chuyên nghiệp.
  • Để thúc đẩy tiến trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước giai đoạn tiếp theo, các cơ quan chức năng cần khẩn trương hoàn thiện thể chế pháp lý, kiên quyết thu hồi quyền quản trị vốn từ các bộ ngành về đầu mối tập trung và áp dụng chuẩn mực quản trị OECD trên toàn hệ thống.