Luận văn: Chuyên môn hóa đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp (Trường hợp SCIC)

Luận văn thạc sĩ phân tích chuyên môn hóa chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp Việt Nam, tập trung vào tổng công ty đầu tư.

Chuyên ngành

Chính Sách Công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2015

64
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI VÀ BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU

1.1. Bối cảnh và vấn đề chính sách

1.2. Mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn

1.2.1. Mục tiêu của đề tài

1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu

1.2.3. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp luận

1.5. Cấu trúc của đề tài

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ CHO VIỆC TÁCH BẠCH CHỨC NĂNG ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU VỐN NHÀ NƯỚC KHỎI CHỨC NĂNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ MÔ HÌNH TẬP TRUNG HÓA TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA CHÂU Á

2.1. Ba kiểu hình quản lý vốn nhà nước tại các quốc gia OECD và cơ sở cho sự tách rời chức năng quản lý vốn khỏi chức năng quản lý nhà nước

3. CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU CỐT LÕI CỦA SCIC, SO SÁNH VỚI KINH NGHIỆM CỦA CÁC QUỐC GIA

4. CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH CHO MÔ HÌNH SCIC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU

TÓM TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp là một vấn đề quan trọng trong quản lý kinh tế ở Việt Nam. Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) được thành lập nhằm thực hiện chức năng này một cách chuyên nghiệp. Mô hình này không chỉ giúp tách bạch giữa quản lý hành chính và quản lý vốn mà còn tạo ra một cơ chế minh bạch hơn trong việc sử dụng vốn nhà nước.

1.1. Khái niệm và vai trò của SCIC trong quản lý vốn nhà nước

SCIC đóng vai trò là đại diện cho nhà nước trong việc quản lý và đầu tư vốn tại các doanh nghiệp. Mô hình này giúp tối ưu hóa việc sử dụng vốn nhà nước, đồng thời giảm thiểu rủi ro trong quản lý.

1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của SCIC

SCIC được thành lập vào năm 2005 với mục tiêu cải cách quản lý vốn nhà nước. Qua gần 10 năm hoạt động, SCIC đã có những bước tiến đáng kể nhưng vẫn gặp nhiều thách thức trong việc thực hiện chức năng của mình.

II. Vấn đề và thách thức trong chuyên môn hóa chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước

Mặc dù SCIC đã đạt được một số thành công, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Sự phân tán quyền lực và chức năng giữa các cơ quan nhà nước đã gây ra sự không minh bạch trong quản lý vốn nhà nước.

2.1. Những khó khăn trong việc tách bạch chức năng quản lý

Việc tách bạch chức năng quản lý vốn nhà nước khỏi chức năng hành chính vẫn còn nhiều khó khăn. Các cơ quan nhà nước vẫn giữ quyền kiểm soát lớn đối với SCIC, dẫn đến sự chậm trễ trong quyết định đầu tư.

2.2. Tình hình doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam

Doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam hiện nay vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc hoạt động hiệu quả. Nhiều doanh nghiệp vẫn hoạt động kém hiệu quả, gây lãng phí vốn nhà nước.

III. Phương pháp và giải pháp chính cho việc cải cách quản lý vốn nhà nước

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của SCIC, cần có những giải pháp cụ thể nhằm cải cách quản lý vốn nhà nước. Các phương pháp này bao gồm việc cải thiện khung pháp lý và tăng cường trách nhiệm giải trình.

3.1. Cải cách khung pháp lý cho SCIC

Cần có những thay đổi trong khung pháp lý để SCIC có thể hoạt động độc lập hơn. Điều này bao gồm việc giảm thiểu sự can thiệp của các cơ quan nhà nước vào hoạt động của SCIC.

3.2. Tăng cường trách nhiệm giải trình và minh bạch

Tăng cường trách nhiệm giải trình sẽ giúp SCIC hoạt động hiệu quả hơn. Cần có các cơ chế giám sát độc lập để đảm bảo rằng các quyết định đầu tư được thực hiện một cách minh bạch.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về SCIC

Nghiên cứu về SCIC đã chỉ ra rằng mô hình này có thể được áp dụng để cải cách quản lý vốn nhà nước tại Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng SCIC cần phải được củng cố để phát huy vai trò của mình.

4.1. Kết quả hoạt động của SCIC trong thời gian qua

SCIC đã đạt được một số thành công trong việc quản lý vốn nhà nước, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết để nâng cao hiệu quả hoạt động.

4.2. Bài học từ các mô hình quản lý vốn nhà nước thành công trên thế giới

Các mô hình quản lý vốn nhà nước thành công từ các quốc gia khác như Singapore và Trung Quốc có thể cung cấp những bài học quý giá cho SCIC trong việc cải cách quản lý vốn nhà nước.

V. Kết luận và tương lai của chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước

Chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp cần được cải cách để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế hiện đại. Tương lai của SCIC phụ thuộc vào khả năng thực hiện các giải pháp cải cách một cách hiệu quả.

5.1. Tương lai của SCIC trong bối cảnh kinh tế Việt Nam

SCIC cần phải phát huy vai trò của mình trong việc quản lý vốn nhà nước, đồng thời cần có những cải cách để phù hợp với bối cảnh kinh tế hiện tại.

5.2. Định hướng phát triển cho SCIC trong thời gian tới

Định hướng phát triển cho SCIC cần tập trung vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng cường trách nhiệm giải trình để đảm bảo sử dụng vốn nhà nước một cách hiệu quả nhất.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh vấn đề chuyên môn hóa chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở việt nam trường hợp tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu về đề tài; - Chương 2: Cơ sở cho sự tách biệt chức năng chủ sở hữu vốn nhà nƣớc khỏi chức năng quản lý nhà nƣớc và kinh nghiệm tại một số quốc gia; - Chương 3: Phân tích hoạt động đại diện chủ sở hữu cốt lõi của SCIC, so sánh với kinh nghiệm của các quốc gia; - Chương 4: Đề xuất giải pháp chính sách cho mô hình SCIC. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -15- CHƢƠNG 2: CƠ SỞ CHO VIỆC TÁCH BẠCH CHỨC NĂNG ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU VỐN NHÀ NƢỚC KHỎI CHỨC NĂNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VÀ MÔ HÌNH TẬP TRUNG HÓA TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA CHÂU Á 2. Ba kiểu hình quản lý vốn nhà nƣớc tại các quốc gia OECD và cơ sở cho sự tách rời chức năng quản lý vốn khỏi chức năng quản lý nhà nƣớc Hoạt động quản trị DNNN đối với các nƣớc OECD hình thành từ 4 nền tảng chính: (i) DNNN vẫn chiếm một phần đáng kể trong nền kinh tế của các nƣớc OECD và có thể gây ra ảnh hƣởng quan trọng lên tổng thể nền kinh tế; (ii) Toàn cầu hóa và tự do hóa trong rất nhiều lĩnh vực có thể biến đổi hình thức tác động của nhà nƣớc lên các lĩnh vực và tạo ra các vấn đề tƣơng ứng về quyền chủ sở hữu; (iii) DNNN phải đối mặt với những khó khăn đặc thù của quản trị mà chỉ có thể xác định bằng cách sử dụng các công cụ đƣợc thiết kế riêng cho lĩnh vực công; (iv) Sự tăng trƣởng của các DN do NN đại diện chủ sở hữu đƣợc kỳ vọng sẽ thúc đẩy sự tăng trƣởng thông qua biểu hiện tốt hơn và gia tăng năng suất của các DNNN một cách trực tiếp thông qua cạnh tranh và chuẩn chất lƣợng cao cho lĩnh vực kinh doanh nói chung. Theo đó đặc thù quản lý nhà nƣớc thay đổi từ quốc gia này sang quốc gia khác, phụ thuộc rất nhiều vào các tổ chức hành chính truyền thống và ý nghĩa của khu vực NN trong nền kinh tế trƣớc việc quản lý tƣ nhân hóa các tài sản nhà nƣớc.

Ba loại tổ chức và phát triển toàn cầu chính của chức năng chủ sở hữu trong thập kỷ qua bao gồm phi tập trung hóa hay mô hình quản lý ngành, mô hình kép và mô hình tập trung. Mô hình truyền thống nhất đó là phi tập trung hóa, trong đó DNNN do các bộ liên quan chịu trách nhiệm chủ sở hữu. Mô hình kép, là một mô hình đang thịnh hành, trong đó trách nhiệm chủ sở hữu đƣợc chia sẽ giữa các bộ ngành và cơ quan trung ƣơng, thƣờng là Bộ tài chính hoặc Kho bạc NN. Cuối cùng là mô hình tập trung hóa trong đó trách nhiệm thuộc về một bộ chính, là mô hình đang nở rộ những năm gần đây.

Sự cải cách này có xu hƣớng đƣa các quốc gia chuyển từ mô hình phi tập trung hóa sang mô hình tập trung hóa, mặc dầu một vài nƣớc dƣờng nhƣ vẫn phát triển một mô hình quản lý kép khá ổn định, theo PGS. Hoàng Văn Hải và ThS. Trần Thị Hồng Liên, 2011. Năm 2005 chỉ có hai quốc gia còn giữ mô hình Phi tập trung hóa là Phần Lan và Anh, các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -16- quốc gia còn lại tập trung vào mô hình Song trùng và Tập trung hóa.

Có một số quốc gia sử dụng nhiều hơn một mô hình nhƣ Cộng Hòa Séc, Cộng Hòa Slovakia3.1- Sự sắp xếp và phát triển của chức năng chủ sở hữu nhà nƣớc tại một số nƣớc thuộc OECD4 3 cơ quan Hàn Quốc chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ Thụy Sỹ Mô hình song Ý trùng Niu-di-lân Hy Lạp Mê-xi-cô 2 cơ quan chính phủ Áo Đức Úc Pháp Xlô-va-kia Nhật Bản Cộng Hòa Séc Vương Quốc Anh Ba Lan Đan Mạch Phần Lan Mô hình tập Bỉ 1 cơ quan trung Mô hình quản lý Quốc chính phủ Thụy Điển Hà Lan ngành Na-Uy Tây Ban Nha Phi tập trung hóa Tập trung hóa Chiều hƣớng tập trung hóa chức năng CSH vốn NN xuất hiện ở các nƣớc Châu Á. Mô hình kinh doanh vốn NN nổi bật và dành đƣợc nhiều thành công ở quy mô quốc tế là Temasek của Singapore. Temasek là mô hình kinh doanh vốn NN hoàn toàn theo kiểu tƣ nhân, đặt lợi nhuận lên hàng đầu và có chiến lƣợc kinh doanh bài bản. Ở Trung Quốc có mô hình SASAC với quy mô và quyền lực lớn, các DNNN ở Trung Quốc trƣớc đây thuộc sự quản lý của Chính phủ, các bộ, cơ quan chuyên ngành, chính quyền địa phƣơng (ngoại trừ DN trong lĩnh vực tài chính) nay đã chuyển hết cho SASAC quản lý.

Trung Quốc còn có tập đoàn SDIC, đầu tƣ kinh doanh vốn NN vì mục tiêu lợi nhuận. Malaysia thì có mô hình quỹ đầu tƣ Khazanah, tiên phong trong việc tái cấu trúc các DNNN để nâng cao hiệu quả nền kinh tế 3 Xem Phụ Lục 1 4 OECD, 2005, Tr. 27 do tác giả dịch sang tiếng Việt. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -17- quốc gia.

Hiện tại ở Việt Nam có SCIC, đại diện cho mô hình quản lý vốn NN tập trung, theo ông Lê Song Lai, Phó tổng Giám đốc của SCIC (2009) là “một phần của quá trình đổi mới DNNN nhằm chuyển đổi từ cơ chế quản lý hành chính sang mô hình đầu tư kinh doanh vốn”. Cơ sở cho một hệ thống quản trị công ty hiệu quả, không chỉ riêng đối với DN tƣ nhân mà cả các DNNN, đã dƣợc đề cập tại Bộ Nguyên tắc quản trị Công ty của OECD (2005). Trong đó tập trung vào vấn đề quản trị bắt nguồn từ việc tách rời quyền sở hữu và quyền kiểm soát. Tƣơng tự nhƣ vậy, sự lựa chọn tách bạch hai chức năng, và tập trung vào chức năng chủ sở hữu về sử dụng đồng vốn nhà nƣớc mà một số quốc gia trên thế giới đang lựa chọn nhằm giải quyết căn nguyên sau đây: - Trong mô hình Phi tập trung hóa, một cơ quan kiêm hai chức năng quản lý NN và quản lý vốn của NN nhƣ trên, sẽ dễ dẫn đến tâm lý ỷ lại vì không có sự giám sát khách quan.

Các cơ quan đó thƣờng ra những quyết định sử dụng đồng vốn không hợp lý, nhằm mang lại lợi ích cho cá nhân hoặc một nhóm hơn là lợi ích của số đông. Họ cũng không chịu toàn bộ trách nhiệm, hậu quả cho việc làm của mình. Lý thuyết kinh tế công chỉ ra rằng, hiện tƣợng tâm lý ỷ lại xuất hiện trong sản xuất công của William Baumol (1984) và trong lý thuyết kinh tế chính trị học đã đề cập đến một thất bại của nhà nƣớc là hiện tƣợng lựa chọn công mềm5. - Về khía cạnh Quản trị NN, sự kiêm nhiệm chức năng trong mô hình truyền thống cũng dẫn đến những mâu thuẫn có thể suy luận đƣợc.

Trƣơc hết, mục tiêu của hoạt động quản lý NN là nhằm tạo môi trƣờng kinh doanh bình đẳng, thuận lơi cho phát triển đa dạng các thành phần DN, thu hút nguồn lực phát triển kinh doanh. Các cơ quan này có thể còn có vai trò tƣ vấn trong việc ban hành pháp luật, theo dõi và giám sát hoạt động kinh doanh, chú trọng vào mục tiêu quản lý vĩ mô. Trong khi đó, mục tiêu mà cơ quan đại diện CSH vốn quan tâm đến là hiệu quả kinh doanh theo đúng nghĩa thị trƣờng, đem lại lợi nhuận cao, tăng trƣởng doanh thu cho CSH, tức là phải hoạt động nhƣ một công ty vì lợi nhuận. Nhƣ vậy nếu cơ quan quản lý NN cũng kiêm nhiệm chức năng đại diện CSH vốn thì vô hình chung ngƣời tạo lập sân chơi cũng chính là ngƣời thực 5 Xem phần Các khái niệm.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -18- hiện kinh doanh trên sân chơi mình tạo ra, dẫn đến mâu thuẫn khi đƣa ra các quyết sách cho thị trƣờng và thƣờng là thiên vị cho nhóm DN mà mình đại diện sở hữu. Các mô hình Song trùng và Tập trung hóa sẽ phân định rạch ròi hơn và chuyên môn hóa hơn các chức năng, nhờ đó mà sự minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan này cũng tăng lên, hạn chế các vấn đề tiêu cực trong bộ máy quản lý NN. Đồng thời tạo điều kiện để mỗi cơ quan tập trung hơn vào vai trò của mình, nâng cao kết quả đầu tƣ của đồng vốn NN. Xu hƣớng tập trung hóa chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nƣớc tại một số quốc gia Châu Á 2.

Mô hình Temasek của Singapore Ở một số quốc gia, DNNN không chỉ là công cụ để NN điều tiết kinh tế vĩ mô, chống sự chèn lấn của các tập đoàn kinh tế nƣớc ngoài, thực hiện các chính sách an sinh xã hội mà còn đóng góp đáng kể cho GDP. Điển hình là ở Singapore, tập đoàn Temasek đã phát huy lợi ích quốc gia trên cả hai phƣơng diện thƣơng mại và phi thƣơng mại, theo số liệu tại nghiên cứu của Wilson Ng. (2009) đóng góp vào GDP của danh mục đầu tƣ do Temasek quản lý năm 1998 là 13% và đến 2003 là khoảng 10,3%. Chính phủ Singapore bắt đầu xây dựng các tổ chức lớn vào đầu thập niên 70.2- Các tổ chức kinh tế lớn mà chính phủ Singapore thành lập vào đầu thập niên 706 Cơ quan tiền tệ của Singapore - Ban phát triển kinh tế - EDB Ban phát triển nhà ở- HDB MAS (Monetary Authority of (Economuc Development (Housing Development Board) Singapore) Board) Sau khi thành lập EDB thì ban này mua cổ phần của một số công ty và chuyển giao cho tập đoàn Temasek.

Temasek ra đời năm 1974 là một công ty kinh doanh theo kiểu tƣ nhân do NN đầu tƣ 6 OECD (2014). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Temasek đã phát triển từ một công ty quản lý phần vốn NN thụ động trở thành Tập đoàn có giá trị danh mục đầu tƣ ròng lên tới 223 tỷ đô la Singapore (khoảng 175 tỷ USD) thời điểm 31/3/2014, Temasek đƣợc xếp hạng tín dụng AAA bởi Standard&Poors’(2014). Temasek nắm giữ một danh mục đầu tƣ rộng lớn vào các ngành viễn thông, truyền thông, công nghệ cao, giao thông vận tải, công nghệ, bất động sản (BĐS) và tài nguyên7.

Số lƣợng nhân viên của Temasek là hơn 170.000 ngƣời trong đó có đội ngũ chuyên gia đa quốc gia là hơn 490 ngƣời làm việc tại 11 văn phòng trên toàn cầu, ở cả những thành phố lớn nhƣ London, New York. Chủ tịch nƣớc đƣợc quyền phê chuẩn đề cử cho Hội đồng quản trị nhƣng Bộ trƣởng Bộ Tài chính lại không phải là một thành viên của Hội đồng quản trị Temasek. Theo một nghiên cứu của Wilson Ng., đại học Roehampton (2009) thì để đạt đƣợc thành công hiện tại Temasek cũng phải trải qua rất nhiều chuyển đổi, từ nhân sự đến chiến lƣợc đầu tƣ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ