Chương 1: Giới thiệu Trình bày tóm lược vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan về các nghiên cứu trước đây Khảo sát cơ sở lý thuyết của đề tài nghiên cứu, trình bày các nghiên cứu trước về tác động giữa đòn bẩy tài chính và đầu tư công ty để làm tiền đề đưa các biến vào LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 mô hình nghiên cứu được sử dụng ở chương 3, đồng thời so sánh, giải thích kết quả thu được ở chương 4. Chương 3: Dữ liệu thu thập và phương pháp nghiên cứu Trình bày phương pháp thu thập và phân tích số liệu bằng phần mềm phân tích thống kê, từ đó đề xuất mô hình hồi quy phù hợp thể hiện tác động của đòn bẩy tài chính đến quyết định đầu tư của công ty. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trên nguồn dữ liệu đã thu thập, sử dụng phần mềm để phân tích và đưa ra kết quả nghiên cứu.
Đồng thời giải thích kết quả nghiên cứu, và so sánh kết quả nghiên cứu này với kết quả nghiên cứu của các tác giả trước đó. Chương 5: Kết luận Kết luận lại quá trình nghiên cứu, qua đó đề xuất một số đóng góp trong thực tiễn. Bên cạnh đó đưa ra những hạn chế của bài nghiên cứu làm tiền đề cho các bài nghiên cứu sau. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Từ trước đến nay, trên thế giới có nhiều nghiên cứu không đồng nhất về mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và đầu tư.
Cụ thể như sau: Theo nghiên cứu của Modigliani và Miller (1958) cho rằng trong thị trường hoàn hảo thì quyết định đầu tư của công ty không chịu tác động bởi quyết định tài trợ. Tuy nhiên, trong thế giới thực lại tồn tại các vấn đề như thông tin bất cân xứng, chi phí đại diện … đã làm xuất hiện vấn đề “đầu tư dưới mức” hay “đầu tư vượt mức”. Theo bài nghiên cứu của Myers (1977), tác giả kết luận chính những mâu thuẫn giữa nhóm các cổ đông - nhà quản lý và trái chủ trong một công ty có sử dụng nợ vay có thể làm giảm động lực đầu tư vào những cơ hội kinh doanh có NPV dương vì lo sợ những lợi ích từ dự án thuộc về trái chủ. Chính điều này dẫn đến “đầu tư dưới mức”.
Do đó, các doanh nghiệp sử dụng vốn vay ít có khả năng khai thác cơ hội tăng trưởng giá trị so với các doanh nghiệp có mức độ đòn bẩy thấp. Trong trường hợp này cần cắt giảm đòn bẩy mới có thể giúp tăng giá trị doanh nghiệp. Vì vậy mối quan hệ giữa đòn bẩy và đầu tư là nghịch chiều nhau. Theo Jensen (1986) cũng cho thấy mối quan hệ nghịch chiều giữa đòn bẩy và đầu tư, nhưng lập luận của họ dựa trên mâu thuẫn về lợi ích giữa cổ đông và nhà quản lý, dẫn dến “đầu tư quá mức”.
Họ cho rằng các doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng thấp nhưng vẫn quyết định đầu tư do xuất phát từ lợi ích bản thân của nhà quản lý. Nhà quản lý có xu hướng mở rộng quy mô của doanh nghiệp, họ có thể thực hiện cả những dự án với NPV âm, gây hại đến lợi ích của cổ đông. Jensen chỉ ra rằng nợ có thể giúp tránh được vấn đề “đầu tư quá mức” bằng cách giảm dòng tiền nội bộ của doanh nghiệp nhằm ngăn ngừa khả năng các nhà quản lý đầu tư vào những dự án không hiệu quả. Những lý thuyết trên cho thấy mối quan hệ nghịch LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 chiều giữa đòn bẩy và đầu tư nhưng chỉ giành cho các doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng thấp.
Theo bài nghiên cứu của Stulz (1990), Grossman và Hart (1992), họ cũng cho thấy mối quan hệ nghịch chiều giữa đòn bẩy và đầu tư. Họ lập luận rằng gia tăng nợ nhằm hạn chế vấn đề “đầu tư quá mức” vì gia tăng nợ không chỉ làm giảm dòng tiền nội bộ đầu tư vào những dự án không hiệu quả, mà còn tăng nguy cơ phá sản của doanh nghiệp, buộc các nhà quản lý doanh nghiệp giảm đầu tư và kiểm soát những bộ phận kinh doanh thua lỗ. Nhờ sự hỗ trợ của hai lý thuyết “đầu tư quá mức” và “đầu tư dưới mức” vào các nghiên cứu của mình, Mc Connell và Servaes (1995) kiểm tra một mẫu lớn các công ty phi tài chính của Mỹ những năm 1976, 1986, 1988. Cho mỗi năm, họ tách mẫu của họ thành hai nhóm, nhóm doanh nghiệp tăng trưởng cao và nhóm doanh nghiệp tăng trưởng thấp.
Họ cho thấy rằng giá trị doanh nghiệp tỷ lệ nghịch với đòn bẩy cho các doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng cao (chỉ ra bởi Tobin’s Q cao), và tỷ lệ thuận với đòn bẩy cho các doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng thấp (chỉ ra bởi Tobin’s Q thấp). Kết quả của họ phù hợp với giả thuyết cho rằng đòn bẩy gây ra “đầu tư dưới mức” và làm giảm giá trị doanh nghiệp, cũng như giả thuyết cho rằng đòn bẩy làm suy giảm “ đầu tư quá mức” và làm tăng giá trị doanh nghiệp. Lang và cộng sự (1996) phân tích mẫu lớn các doanh nghiệp công nghiệp của Mỹ trong giai đoạn 1970-1989 và một lần nữa tìm thấy mối quan hệ nghịch biến giữa đòn bẩy và đầu tư, nhưng chỉ giành cho các doanh nghiệp tăng trưởng thấp (với Tobin’s Q < 1). Họ không tìm thấy tương quan nghịch này ở những doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng cao (Tobin’s Q > 1).
Nói cách khác, họ cho rằng ở những doanh nghiệp có nhiều cơ hội tăng trưởng thì việc tăng vay nợ không làm giảm đầu tư và không ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Theo Jáno Kornai - nhà kinh tế học người Hungary (1986), trong bài viết tác giả đã đưa ra thuật ngữ “ràng buộc ngân sách linh hoạt” (soft budget constraint). Đây là hiện tượng thường thấy trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, khi các ràng buộc đối với các đơn vị kinh tế trở nên “linh hoạt”. Tình trạng “ràng buộc ngân sách linh hoạt” thường liên quan đến “chính sách phụ mẫu” của Nhà nước đối với các tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu.
Qua nghiên cứu của mình, Jáno cho thấy rằng nếu DNNN bị lỗ và lâm vào tình trạng nợ nần thì luôn có hành động giải cứu như : sự cứu trợ từ ngân sách nhà nước, hay ngân hàng nhà nước cho vay dù ít hi vọng khoản vay sẽ được hoàn trả đầy đủ. Nhà nước thông qua trợ cấp, miễn giảm thuế, ấn định giá đầu vào, giá đầu ra, tín dụng ưu đãi hoặc tín chấp…để giúp các DNNN tăng trưởng và cứu vớt các doanh nghiệp này khỏi thua lỗ và phá sản. Chính vì có được những ưu đãi trong quá trình hoạt động nên các doanh nghiệp này thường ít quan tâm đến tính hiệu quả khi sử dụng khoản vay để đầu tư. Vì vậy mối quan hệ giữa vay nợ và đầu tư là thuận chiều nhau.
Aivazian và cộng sự (2005) phân tích tác động của đòn bẩy lên đầu tư của các doanh nghiệp công nghiệp Canada trong giai đoạn 1982-1999. Họ tìm thấy một mối quan hệ nghịch chiều giữa đầu tư và đòn bẩy và mối quan hệ nghịch chiều này ở những doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng thấp là cao hơn so với doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng cao. Ahn và cộng sự (2006) nhận thấy rằng các doanh nghiệp được đa dạng hóa có tỷ lệ nợ cao hơn và đầu tư nhiều hơn so với các doanh nghiệp không được đa dạng hóa vì các doanh nghiệp này có thể vượt qua những hạn chế về tỷ lệ nợ thông qua việc phân chia nợ phải trả cho những nhà quản lý. Johnson (2003) và Billet và cộng sự (2007) nghiên cứu ảnh hưởng của cơ hội đầu tư vào sự lựa chọn chung của đòn bẩy và đáo hạn nợ với sự ưu đãi trong đầu tư và rủi ro thanh khoản liên quan đến nợ ngắn hạn.
Họ cho rằng các doanh nghiệp có LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 cơ hội tăng trưởng cao áp dụng đòn bẩy tài chính thấp hay sử dụng đáo hạn nợ ngắn hạn để làm suy giảm tác động tiêu cực giữa đòn bẩy và đầu tư của doanh nghiệp. Mohanprasadding Odit và Chitto (2008) phân tích tác động của đòn bẩy lên đầu tư của 27 doanh nghiệp trên sàn giao dịch ngoại hối Mauritians trong giai đoạn 1990-2004. Họ tìm thấy mối quan hệ nghịch chiều giữa đòn bẩy và đầu tư ở các doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng thấp. Tuy nhiên họ không tìm thấy tác động nghịch chiều này ở các doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng cao.
Kết quả này của họ khá tương đồng với kết quả của Lang và cộng sự (1996). Michael Firth, Chen Lin, Sonia ML Wong (2010): để nghiên cứu mối quan hệ giữa đòn bẩy và đầu tư ở thị trường Trung Quốc, nhóm tác giả sử dụng mẫu gồm 1203 doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch Shanghai và Shenzhen trong giai đoạn 1991 -2004. Các tác giả đưa ra ba kết luận: Thứ nhất, mối quan hệ giữa đòn bẩy và đầu tư là nghịch chiều nhau. Thứ hai: mối quan hệ nghịch chiều này mạnh mẽ hơn ở những doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng cao và hoạt động kinh doanh tốt so với những doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng thấp và hoạt động kinh doanh kém hiệu quả.
Thứ ba: Mối quan hệ nghịch chiều giữa đòn bẩy và đầu tư mạnh mẽ hơn ở những doanh nghiệp có yếu tố sở hữu nhà nước thấp so với những doanh nghiệp có yếu tố sở hữu nhà nước cao.K (2011) phân tích mối quan hệ giữa đòn bẩy và đầu tư của các doanh nghiệp dược phẩm Ấn Độ trong giai đoạn 1998-2009. Họ dựa vào quy mô doanh nghiệp để phân thành ba nhóm: doanh nghiệp có quy mô lớn, quy mô vừa và quy mô nhỏ. Kết quả cho thấy mối tương quan thuận chiều giữa đòn bẩy và đầu tư ở những doanh nghiệp có qui mô nhỏ. Trong khi đó, mối tương quan này là thuận chiều và không có ý nghĩa thống kê ở những doanh nghiệp lớn; mối tương quan nghịch chiều và không có ý nghĩa thống kê ở những doanh nghiệp có qui mô vừa.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Để giải quyết vấn đề nội sinh giữa mối quan hệ đòn bẩy và đầu tư, Lang và cộng sự (1996) phân biệt giữa tác động đòn bẩy trong lĩnh vực kinh doanh chính của doanh nghiệp với tác động của đòn bẩy trong lĩnh vực kinh doanh phụ.