CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CHÍNH PHỦ TRONG Y TẾ VÀ GIÁO DỤC ĐẾN HDI 1. Lý luận chung về chi tiêu chính phủ trong lĩnh vực y tế và giáo dục 1. Khái niệm Theo Ogbole & Momodu (2015), chi tiêu công (hay chi tiêu của chính phủ) là khoản tiền mà chính phủ của bất kỳ quốc gia nào chi ra để thực hiện trách nhiệm hiến pháp của mình trong việc cung cấp các phúc lợi xã hội cho công dân của mình và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của mình. Bên cạnh đó, chi tiêu công là các khoản chi được thực hiện bởi nhà nước và các cơ quan của nhà nước trong việc cung cấp hàng hóa công.
Dựa trên cục thống kê Châu Âu (Eurostat Statistics) định nghĩa chi tiêu chính phủ cho giáo dục là chi tiêu cho các thành phần bộ phận giáo dục: gồm giáo dục mầm non và tiểu học, giáo dục trung học, giáo dục sau trung học, giáo dục đại học, giáo dục không thể định nghĩa theo cấp, ví dụ chi phí cho việc cung cấp xe buýt trường học, chi cho nghiên cứu và phát triển. Theo OECD, chi tiêu công cho giáo dục bao gồm chi tiêu trực tiếp cho các tổ chức giáo dục cũng như trợ cấp công cộng liên quan đến giáo dục cho các hộ gia đình và được quản lý bởi các tổ chức giáo dục. Đối với tổ chức Ngân hàng Thế giới (Worldbank), định nghĩa chi tiêu cho giáo dục là tổng chi tiêu của chính phủ nói chung (địa phương, khu vực và trung ương) về giáo dục (hiện tại, vốn và chuyên đổi), thể hiện dưới dạng phần trăm của tổng chi tiêu của chính phủ đối với tất cả các ngành (bao gồm y tế, giáo dục, dịch vụ xã hội, vv). Chi tiêu này bao gồm các khoản chi được tài trợ bằng việc chuyển từ các nguồn quốc tế cho chính phủ.
Chi tiêu giáo dục công cộng bao gồm chi tiêu của chính quyền địa phương, khu vực và quốc gia (trừ đóng góp của hộ gia đình) đối với các cơ sở giáo dục (cả nhà nước và tư nhân), quản lý giáo dục và trợ cấp cho các cá nhân (sinh viên, hộ gia đình và các cá nhân khác). Trong một số trường hợp, dữ liệu về tổng chi tiêu công cho giáo dục chỉ đề cập đến Bộ giáo dục và có thể loại trừ các bộ khác dành một phần ngân sách cho các hoạt động giáo dục. Chỉ số này được tính LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 bằng cách chia tổng chi tiêu công cho giáo dục do tất cả các cơ quan, ban ngành của chính phủ cho tổng chi tiêu của chính phủ và nhân lên 100 để tính phần trăm. Mohammad Javad Razmi và cộng sự (2012) đưa ra khái niệm về chi tiêu chính phủ cho lĩnh vực y tế là toàn bộ chi tiêu của chính phủ cho chi phí y tế bao gồm chi phí điều trị và dự phòng, hoạch định các dịch vụ trong tương lai cho gia đình và chi phí dự phòng trong trường hợp khẩn cấp.
Vai trò Đã có một cuộc tranh luận trong nhiều thập kỷ giữa quan điểm của Keynes và các nhà kinh tế tân cổ điển về tầm quan trọng của sự can thiệp của chính phủ đối với thị trường. Không ít người đoạt giải Nobel, James Buchanan, lập luận rằng sự tham gia của chính phủ có thể làm mọi thứ trở nên tồi tệ hơn vì các lựa chọn công cộng có thể trở nên kém hiệu quả trong thị trường tư nhân phát triển (Buchanan, 1975 Buchanan và Musgrave, 1999). Bên cạnh đó, Tanzi (2005) cho rằng sự tham gia của chính phủ thường tạo ra các độc quyền công cộng, hạn chế thu hút sự tham gia của tư nhân. Ông cho rằng chính phủ có nghĩa vụ phải sửa chữa những sai lầm do thị trường gây ra, hoặc để bù đắp cho những thiếu sót của nó, và không thể thay thế thị trường.
Có thể thấy Chi tiêu chính phủ có một vai trò đặc biệt quan trọng trong điều tiết nền kinh tế và đảm bảo sự phát triển của một quốc gia. Các lý thuyết kinh tế thường không chỉ ra một cách rõ ràng tác động của chi tiêu chính phủ đến sự phát triển của một quốc gia. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu của sự phát triển, hầu hết các chính phủ và các nhà nghiên cứu đều tập trung nhấn mạnh vai trò của chi tiêu chính phủ tác động đến tăng trưởng kinh tế.“Đường cong phản ánh mối quan hệ giữa quy mô chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế đã được xây dựng bởi nhà kinh tế Richard Rahn (1986), và được các nhà kinh tế sử dụng rộng rãi khi nghiên cứu vai trò của chi tiêu chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế.” “Đường cong Rahn hàm ý tăng trưởng sẽ đạt tối đa khi chi tiêu chính phủ là vừa phải và được phân bổ hết cho những hàng hoá công cộng cơ bản như cơ sở hạ tầng, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 bảo vệ luật pháp và quyền sở hữu. Tuy nhiên chi tiêu chính phủ sẽ có hại đối với tăng trưởng kinh tế khi nó vượt quá mức giới hạn này.” “Điểm tối ưu tăng trưởng trên đường cong Rahn là một trong chủ đề nghiên cứu gây tranh cãi trong nhiều thập niên qua.
Tuy các nhà kinh tế còn bất đồng về con số chính xác nhưng về cơ bản họ thống nhất với nhau rằng, mức chi tiêu chính phủ tối ưu tối với tăng trưởng kinh tế dao động trong khoảng từ 15 đến 25% GDP, mặc dù rất có thể những ước tính này là quá cao do những nghiên cứu thống kê bị hạn chế bởi sự sẵn có của số liệu.” Tốc độ tăng trưởng kinh tế Quy mô tối ưu Chi tiêu chính phủ theo phần trăm GDP Hình 1: Đường Rahn Hầu hết các nhà kinh tế đồng ý rằng có những trường hợp nhất định việc cắt giảm chi tiêu chính phủ sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, và cũng có những trường hợp sự gia tăng chi tiêu chính phủ là có lợi cho tăng trưởng.” Khi các quốc gia đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, và bắt đầu xảy ra những xung đột kinh tế liên quan đến bất bình đẳng xã hội, thuật ngữ phát triển bền vững bắt đầu được đề cập nhiều hơn. Chính phủ các quốc gia dần thay đổi mục tiêu phát triển chú trọng nhiều hơn đến phát triển con người, coi phát triển con người là trung tâm của sự phát triển. Các chi tiêu chính phủ bắt đầu phân bổ nhiều hơn cho mục tiêu phát triển con người, trong số các nội dung chi tiêu chính phủ, chi tiêu cho y tế và giáo dục đang được nhiều quốc gia quan tâm và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi tiêu của chính phủ. Các nghiên cứu cũng bắt đầu tập trung đánh giá tác động của chi tiêu chính phủ cho giáo dục và y tế tới các mục tiêu phát triển khác LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nhau như tăng trưởng kinh tế, phát triển nguồn nhân lực, xóa đói giảm nghèo.
Một số nghiên cứu lại đánh giá mức độ hiệu quả của chi tiêu chính phủ trong lĩnh vực y tế và giáo dục ở một số quốc gia. Sampaio và Stosic (2005) và Sampaio, Cribari Neto và Stosic (2008) cho thấy rằng quy mô, được đo bằng dân cư, là một yếu tố quyết định hiệu quả chi tiêu. Chi phí dịch vụ công có xu hướng cao hơn trong các khu vực nhỏ hơn, có thể do sự thất bại của họ trong việc khai thác hiệu quả kinh tế theo quy mô. Còn Luiz de Mello, Mauro Pisu (2009) lại cho rằng, đối với dịch vụ giáo dục và y tế do chính phủ cung cấp, dường như đang mang lại hiệu suất theo quy mô, chính vì vậy, chi tiêu chính phủ cho hoạt động dịch vụ y tế và giáo dục có thể hoạt động với quy mô lớn hơn quy mô cung cấp tối ưu, đặc biệt là ở các khu vực hạn chế về điều kiện phát triển giáo dục và một số nhóm dân cư có điều kiện tiếp cận chăm sóc y tế thấp.
Có thể thấy chi tiêu chính phủ có vai trò quan trọng trong lĩnh vực y tế và giáo dục. Việc gia tăng đầu tư của chính phủ cho y tế và giáo dục sẽ góp phần cải thiện đáng kể những kết quả và hiệu quả của hai lĩnh vực này. Theo quan điểm của Mohammad Javad Razmi và cộng sự (2012), trong thế giới ngày nay, việc hưởng thụ sức khoẻ là một trong những quyền của con người không thể chuyển nhượng, vì cải thiện tình trạng sức khoẻ và cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tốt hơn là một trong những khía cạnh cơ bản của phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy, đầu tư vào ngành y tế, như các lĩnh vực xã hội khác, được coi tương tự như một trong những khoản đầu tư cơ sở hạ tầng cho đầu tư phát triển nguồn nhân lực.
Nhiều nghiên cứu cho thấy chi tiêu của chính phủ, đặc biệt là trong lĩnh vực y tế và giáo dục, đóng góp tích cực vào các mục tiêu công cộng. (1998) đã đề cập rằng chi tiêu của chính phủ cho y tế và giáo dục có thể mang lại những tác động tích cực đến nguồn nhân lực từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo động lực thúc đẩy công bằng và giảm nghèo. Đồng quan điểm, Sanjeev Gupta và cộng sự (1998) cũng đã khẳng định Chính phủ chi tiêu cho giáo dục và y tế bởi vì ảnh hưởng tích cực của các lĩnh vực này đến sự hình thành nguồn nhân lực, tạo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và giảm nghèo. Tuy nhiên, mức độ hiệu quả của chi tiêu này phụ thuộc vào cách phân bổ ngân sách trong các lĩnh vực y tế và giáo dục.
Hơn nữa, Doryan (2001) giải thích rằng khi chính phủ sử dụng lợi ích của tăng trưởng kinh tế để tài trợ cho chăm sóc sức khoẻ cơ bản và tiếp cận giáo dục cho tất cả mọi người, nó sẽ mang lại lợi ích kép cho người nghèo; họ khỏe mạnh và có trình độ học vấn cao hơn, từ đó sẽ làm tăng năng suất và thu nhập, cũng như tiêu dùng của họ. Đặc biệt là chi tiêu của chính phủ cho ngành y tế, Razmi et. (2012) đã giải thích rằng chi phí y tế tăng sẽ nâng cao năng suất lao động và tăng nguồn cung lao động, và kết quả làm tăng năng suất và tăng trưởng kinh tế. Chi tiêu công cho chăm sóc sức khoẻ ban đầu là hợp lý bởi sự hiệu quả trong việc giảm bệnh ở trẻ em.