Luận văn UEH: Trách nhiệm xã hội của công chức tại Sở Tài chính Đồng Nai

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu ueh giải pháp hoàn thiện nhận thức về trách nhiệm xã hội của công chức tại sở tài chính đồng nai, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

96
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục tiêu nghiên cứu

0.2.1. Mục tiêu tổng quát

0.2.2. Mục tiêu cụ thể

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Câu hỏi nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

0.7. Kết cấu luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. Cơ sở lý luận về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

1.1.1. Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility – CSR)

1.1.2. Đạo đức kinh doanh

1.1.3. Phát triển bền vững – Mục tiêu thực hiện trách nhiệm xã hội

1.1.4. Lý thuyết các bên liên quan

1.1.5. Một số mô hình nghiên cứu về CSR

1.1.5.1. Mô hình kim tự tháp của Carroll (1991)
1.1.5.2. Mô hình ba miền của Schwartz & Carroll (2003)
1.1.5.3. Mô hình vòng tròn đồng tâm Ủy ban phát triển kinh tế (1971)
1.1.5.4. Mô hình về năm khía cạnh CSR của Alexander Dahlsrud (2008)
1.1.5.5. Mô hình các bên liên quan

1.2. Trách nhiệm xã hội trong khu vực công

1.3. Lợi ích của việc thực hiện trách nhiệm xã hội

1.4. Mô hình nghiên cứu chính thức

1.5. TÓM TẮT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÔNG CHỨC TẠI SỞ TÀI CHÍNH ĐỒNG NAI

2.1. Tổng quan về Sở Tài chính Đồng Nai

2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển

2.1.2. Ngành Tài chính Đồng Nai

2.1.3. Giới thiệu về Sở Tài chính Đồng Nai hiện nay

2.1.4. Chức năng, nhiệm vụ của Sở Tài chính Đồng Nai

2.1.5. Cơ cấu tổ chức

2.1.6. Cơ chế hoạt động

2.1.7. Những yếu tố tác động đến hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị

2.1.8. Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của cán bộ, công chức

2.2. Tổng quan nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2.2. Mô tả mẫu khảo sát

2.2.3. Kết quả khảo sát và phân tích

2.2.3.1. Trách nhiệm xã hội đối với khách hàng
2.2.3.2. Trách nhiệm xã hội với người lao động
2.2.3.3. Trách nhiệm xã hội với nhà cung cấp
2.2.3.4. Trách nhiệm xã hội với môi trường
2.2.3.5. Trách nhiệm xã hội với cộng đồng
2.2.3.6. Trách nhiệm xã hội với nhà quản lý

2.3. Đánh giá chung về thực trạng nhận thức của cán bộ, công chức tại Sở Tài chính Đồng Nai

2.4. TÓM TẮT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NHẬN THỨC VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÔNG CHỨC TẠI SỞ TÀI CHÍNH ĐỒNG NAI

3.1. TÓM TẮT CHƯƠNG 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về trách nhiệm xã hội của công chức tại Sở Tài chính Đồng Nai

Trách nhiệm xã hội của công chức tại Sở Tài chính Đồng Nai là một vấn đề quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Với sự phát triển của nền kinh tế và yêu cầu ngày càng cao từ xã hội, việc nâng cao nhận thức về trách nhiệm xã hội là cần thiết. Công chức không chỉ thực hiện nhiệm vụ quản lý tài chính mà còn phải đảm bảo rằng các quyết định của họ có lợi cho cộng đồng và môi trường.

1.1. Khái niệm trách nhiệm xã hội trong khu vực công

Trách nhiệm xã hội trong khu vực công được hiểu là nghĩa vụ của công chức trong việc phục vụ lợi ích cộng đồng. Điều này bao gồm việc thực hiện các chính sách công một cách minh bạch và hiệu quả, đồng thời đảm bảo rằng các quyết định tài chính không gây hại cho xã hội.

1.2. Vai trò của công chức trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội

Công chức đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội. Họ là những người trực tiếp thực hiện các chính sách và quyết định tài chính, do đó, nhận thức và hành động của họ có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển bền vững của xã hội.

II. Thực trạng nhận thức về trách nhiệm xã hội của công chức tại Sở Tài chính Đồng Nai

Nhận thức về trách nhiệm xã hội của công chức tại Sở Tài chính Đồng Nai hiện nay còn nhiều hạn chế. Một số công chức chưa hiểu rõ về vai trò của mình trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội, dẫn đến việc thực hiện nhiệm vụ chưa đạt hiệu quả cao.

2.1. Kết quả khảo sát nhận thức của công chức

Kết quả khảo sát cho thấy chỉ khoảng 60% công chức nhận thức rõ về trách nhiệm xã hội. Nhiều người vẫn còn mơ hồ về các khái niệm liên quan đến trách nhiệm xã hội và cách thức thực hiện trong công việc hàng ngày.

2.2. Những thách thức trong việc nâng cao nhận thức

Một trong những thách thức lớn nhất là thiếu các chương trình đào tạo và hướng dẫn cụ thể về trách nhiệm xã hội. Điều này dẫn đến việc công chức không có đủ thông tin và kỹ năng cần thiết để thực hiện trách nhiệm xã hội một cách hiệu quả.

III. Giải pháp hoàn thiện nhận thức về trách nhiệm xã hội của công chức

Để nâng cao nhận thức về trách nhiệm xã hội của công chức tại Sở Tài chính Đồng Nai, cần có những giải pháp cụ thể và hiệu quả. Các giải pháp này không chỉ giúp công chức hiểu rõ hơn về trách nhiệm xã hội mà còn tạo động lực để họ thực hiện tốt hơn trong công việc.

3.1. Tổ chức các khóa đào tạo về trách nhiệm xã hội

Các khóa đào tạo nên được tổ chức định kỳ để cung cấp kiến thức và kỹ năng cho công chức. Nội dung đào tạo cần bao gồm các khái niệm cơ bản về trách nhiệm xã hội, cũng như các tình huống thực tế mà công chức có thể gặp phải trong công việc.

3.2. Xây dựng chính sách khuyến khích thực hiện trách nhiệm xã hội

Cần có các chính sách khuyến khích công chức thực hiện trách nhiệm xã hội, chẳng hạn như khen thưởng cho những cá nhân có đóng góp tích cực trong việc nâng cao nhận thức và thực hiện trách nhiệm xã hội.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về trách nhiệm xã hội

Việc nâng cao nhận thức về trách nhiệm xã hội không chỉ mang lại lợi ích cho công chức mà còn cho toàn bộ xã hội. Các nghiên cứu cho thấy rằng khi công chức có nhận thức tốt về trách nhiệm xã hội, họ sẽ thực hiện công việc hiệu quả hơn và tạo ra giá trị cho cộng đồng.

4.1. Các mô hình thành công trong thực hiện trách nhiệm xã hội

Nhiều mô hình thành công đã được áp dụng tại các cơ quan nhà nước khác, cho thấy rằng việc thực hiện trách nhiệm xã hội có thể mang lại lợi ích kinh tế và xã hội lớn. Những mô hình này có thể được áp dụng tại Sở Tài chính Đồng Nai.

4.2. Đánh giá tác động của trách nhiệm xã hội đến hiệu quả công việc

Nghiên cứu cho thấy rằng công chức có nhận thức tốt về trách nhiệm xã hội thường có hiệu suất làm việc cao hơn. Họ cũng có xu hướng tạo ra môi trường làm việc tích cực hơn, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ công.

V. Kết luận và tương lai của trách nhiệm xã hội tại Sở Tài chính Đồng Nai

Kết luận cho thấy rằng việc nâng cao nhận thức về trách nhiệm xã hội của công chức tại Sở Tài chính Đồng Nai là một nhiệm vụ cấp bách. Tương lai của trách nhiệm xã hội phụ thuộc vào sự nỗ lực của từng công chức trong việc thực hiện và duy trì các giá trị này.

5.1. Tầm quan trọng của trách nhiệm xã hội trong phát triển bền vững

Trách nhiệm xã hội không chỉ là một yêu cầu mà còn là một yếu tố quan trọng trong phát triển bền vững. Công chức cần nhận thức rõ điều này để có thể đóng góp tích cực vào sự phát triển của xã hội.

5.2. Định hướng tương lai cho công chức tại Sở Tài chính

Trong tương lai, Sở Tài chính Đồng Nai cần tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động nâng cao nhận thức về trách nhiệm xã hội, từ đó tạo ra một đội ngũ công chức có trách nhiệm và chuyên nghiệp hơn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh giải pháp hoàn thiện nhận thức về trách nhiệm xã hội của công chức tại sở tài chính đồng nai

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Cơ sở lý luận về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility – CSR) Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility – CSR) bắt đầu xuất hiện từ những năm 1920 tại Hoa Kỳ, tuy nhiên, do cuộc Đại khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1939) và Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945), vấn đề CSR đã không còn được chú ý. Cho đến những năm 1950, khái niệm CSR được đề cập trở lại trong cuốn sách “Trách nhiệm xã hội của Doanh nhân” (Social Responsibilities of the Businessmen) của học giả Howard Bowen. Trong cuốn sách này, Bowen (1953) định nghĩa “CSR là nghĩa vụ của doanh nhân để theo đuổi các chính sách, đưa ra các quyết định, hoặc thực hiện chuỗi các hoạt động được xã hội mong đợi cả về mục tiêu và giá trị nhằm mục đích tuyên truyền và kêu gọi người quản lý tài sản không làm tổn hại đến quyền và lợi ích của người khác”. Votaw (1972) có nhận định rằng trách nhiệm trong CSR có nghĩa là tổ chức có trách nhiệm tại địa phương, nơi đang hoạt động, tuy nhiên thuật ngữ này không hoàn toàn giống nhau cho các tổ chức khác nhau.

Mô hình cổ điển của Milton Friedman (1970) cho rằng: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là tăng tối đa lợi nhuận của họ trong phạm vi của luật pháp và các ràng buộc đạo đức tối thiểu”. Tiếp theo, Steiner (1971), cho rằng “trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp luôn đặt lợi ích kinh tế lên hàng đầu nhưng nó vẫn phải có trách nhiệm đối với xã hội để giúp các doanh nghiệp đạt được mục tiêu cơ bản. Vì vậy, hầu hết các doanh nghiệp thường sử dụng một phần lợi nhuận ngắn hạn hoặc dài hạn để duy trì hoạt động thể hiện trách nhiệm xã hội”. Trong khi đó, Johnson (1971) cho rằng “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một trong những hoạt động mà các nhà quản lý hướng tới thay vì chỉ phấn đấu để đem lại lợi ích cho các cổ đông, doanh nghiệp còn có trách nhiệm tính đến lợi ích của nhân viên, nhà cung cấp, đại lý, cộng đồng địa phương và toàn quốc” … LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Carroll (1979) định nghĩa: "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm kinh tế, pháp lý, đạo đức, và sự mong đợi của xã hội dành cho các tổ chức tại một thời điểm nhất định”.

Lưu ý rằng kinh tế và pháp lý là nghĩa vụ và trách nhiệm bắt buộc trong khi các nghĩa vụ về đạo đức và những sự mong đợi khác thì do sự tự nguyện của con người. Không dừng lại ở đó, lý thuyết các bên liên quan đã được phát triển trong khái niệm trách nhiệm xã hội (Freeman 1984, Donaldson và Preston 1995). Theo đó, phạm vi của CSR không chỉ bao gồm bốn khía cạnh mà được mở rộng đến các đối tượng hữu quan (stakeholder). Đến năm 2004, Maignan và Ferrell tiếp tục cho rằng CSR là “các quyết định và hoạt động của doanh nghiệp nhằm tạo ra và cân bằng các lợi ích khác nhau của những cá nhân và tổ chức liên quan”.

Theo như Matten và Moon (2004): “Trách nhiệm xã hội là một khái niệm bao gồm nhiều khái niệm khác như đạo đức kinh doanh, doanh nghiệp làm từ thiện, công dân doanh nghiệp, tính bền vững và trách nhiệm môi trường. Đó là khái niệm động và luôn được thử thách trong từng bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù”. Ngân hàng Thế giới (2004) phát biểu rằng “CSR là cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào sự phát triển kinh tế bền vững, phối hợp với người lao động, gia đình của họ, cộng đồng địa phương và xã hội nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống theo hướng có lợi cho việc kinh doanh cũng như sự phát triển chung”. Đây cũng là cam kết của doanh nghiệp nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực và tối đa hóa lợi ích tác động đến xã hội (Mohr, Webb và Harris, 2001).

CSR liên quan đến những quyết định và hành động được thực hiện mà ít nhất cũng vượt trên những lợi ích kinh tế của doanh nghiệp, là những nguyên tắc điều chỉnh mối quan hệ giữa doanh nghiệp và xã hội (Carroll & Shabana, 2010). CSR ngày càng được đề cao cũng như dành được sự quan tâm của cộng đồng tại nhiều quốc gia và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng chung này (Korhonen, 2003). Một cách cụ thể, biểu hiện về trách nhiệm xã hội của tổ chức được thể hiện qua các vấn đề sau: cung cấp các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao cho người LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 tiêu dùng; tạo môi trường làm việc an toàn, trả lương theo quy định, đầu tư vào phát triển nguồn nhân lực; tuân thủ các yêu cầu về lập pháp (tài chính, lao động, môi trường…); xây dựng mối quan hệ tin cậy và chính xác với tất cả các bên liên quan; cải thiện hoạt động của tổ chức nhằm nâng cao giá trị tổ chức; xem xét những mong đợi của công chúng và những giá trị đạo đức được chấp nhận rộng rãi trong các hoạt động của tổ chức; đóng góp vào xã hội thông qua hợp tác và các dự án phát triển cộng đồng địa phương…Mục tiêu chính của CSR là nhằm đảm bảo tổ chức phát triển theo đúng mục tiêu đã đề ra với định hướng bền vững trong một thời gian dài để tiến hành hoạt động kinh doanh (Jamali, 2008).2 Đạo đức kinh doanh Trong một tổ chức, quy tắc đạo đức là một tập hợp các nguyên tắc hướng dẫn tổ chức trong các chương trình, chính sách và quyết định của nó đối với việc kinh doanh. Triết lý đạo đức mà tổ chức sử dụng để tiến hành hoạt động có tác động mạnh mẽ đến uy tín, năng suất và lợi nhuận cuối cùng của tổ chức.

Đạo đức kinh doanh hình thành từ thực tiễn kinh doanh của mỗi tổ chức trong các thời kỳ lịch sử. Các chuẩn mực đạo đức kinh doanh cũng thay đổi và phát triển theo từng hình thái kinh tế, nhân khẩu học, đặc điểm địa phương. Đạo đức kinh doanh là tất cả những quy tắc, tiêu chuẩn, chuẩn mực đạo đức hoặc luật lệ để cung cấp chỉ dẫn về hành vi ứng xử chuẩn mực và sự trung thực của một tổ chức trong những trường hợp nhất định. Cách thức đánh giá đạo đức kinh doanh của một tổ chức được cụ thể hơn thông qua định nghĩa của Ferrel và Fraedrich (2008): “Đạo đức kinh doanh bao gồm những nguyên tắc cơ bản và tiêu chuẩn điều chỉnh hành vi trong thế giới kinh doanh.

Việc đánh giá một hành vi cụ thể là đúng hay sai, phù hợp với đạo đức hay không sẽ được quyết định bởi nhà đầu tư, nhân viên, khách hàng, các nhóm có quyền lợi liên quan, hệ thống pháp lý cũng như cộng đồng”. Nếu trách nhiệm xã hội là nghĩa vụ mà tổ chức phải thực hiện nhằm đem đến cho xã hội những tác động tích cực và giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực đối với xã hội thì đạo đức kinh doanh đưa ra các chuẩn mực, quy định hướng dẫn hành vi trong hoạt động của tổ chức. Đạo đức kinh doanh đưa ra những chuẩn mực rõ ràng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 để đánh giá phẩm chất của một tổ chức mà chính những chuẩn mực này dẫn dắt đến việc đưa ra quyết định cuối cùng của tổ chức trong khi trách nhiệm xã hội được xem như một cam kết của tổ chức đối vối xã hội. Khi hướng mục tiêu quan tâm đến trách nhiệm xã hội, tổ chức sẽ quan tâm đến hậu quả tác động đến xã hội trước những quyết định của tổ chức.

Tuy khác nhau nhưng trách nhiệm xã hội và đạo đức kinh doanh có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Đạo đức trở thành sức mạnh trong trách nhiệm xã hội và là một khía cạnh trong mô hình kim tự tháo về trách nhiệm xã hội (Carroll, 1979).3 Phát triển bền vững – Mục tiêu thực hiện trách nhiệm xã hội Năm 1972, tại hội nghị Liên Hợp Quốc về môi trường sống ở Stockholm, lần đầu tiên thuật ngữ phát triển bền vững được sử dụng. Tuy nhiên mãi cho đến năm 1987, Ủy ban Brundtland - Ủy ban Môi trường và phát triển thế giới mới đưa ra một định nghĩa chính thức về Phát triển bề vững như sau: “Phát triển có nghĩa là chỉ tập trung thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không cam kết đảm bảo nguồn tài nguyên cho những thế hệ trong tương lai. Còn phát triển bền vững là không chỉ đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội đơn thuần mà còn cam kết, đảm bảo nhu cầu của những người nghèo và thừa nhận giới hạn về nguồn tài nguyên thiên nhiên của thế giới, không làm ảnh hưởng đến thế hệ tương lai”.

Như đã đề cập tại phần 1.2, Ngân hàng Thế giới (năm 2004) đã khẳng định mối tương quan giữa trách nhiệm xã hội và phát triển bền vững, theo đó “Trách nhiệm xã hội là cam kết của tổ chức đóng góp vào sự phát triển kinh tế bền vững, phối hợp với người lao động, gia đình của họ, cộng đồng địa phương và xã hội nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống theo hướng có lợi cho tổ chức cũng như sự phát triển chung”. Thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không những giúp cho tổ chức phát triển bền vững, mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội. Từ sự phát triển bền vững sẽ là nguyên nhân hướng đến việc áp dụng tính CSR vào chính đơn vị theo hướng giai đoạn gồm 3 bước, đó là: (i) sự phát triển bền vững, (ii) đơn vị đủ nguồn lực để đóng góp cho xã hội; (iii) tạo ra trách nhiệm xã hội của đơn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hầu hết các tổ chức muốn phát triển và tồn tại lâu dài đều phải có ý thức và hành động vì xã hội, đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ trong tương lai.4 Lý thuyết các bên liên quan Lý thuyết các bên liên quan là lý thuyết được sử dụng phổ biến nhất trong các nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của tổ chức.

Tiêu biểu trong trường phái lý thuyết này là các tác giả Freeman, Friedman và Wood trong đó Freeman được xem như là cha đẻ của lý thuyết này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ